Tạ Minh.
Đàm,
thấp và thủy là ba tác nhân gây bệnh thường có mặt trong nhiều loại bệnh chứng
khác nhau. Chúng thường quấy rối cơ thể bịnh nhân và gây trở ngại cho việc trị
bịnh chính cho bịnh nhân.
Bộ
huyệt TRỪ ĐÀM THẤP THỦY này được hình thành vào đầu năm 1990. Qua 3 năm thử
nghiệm, truyền bá, bộ huyệt này đã tỏ rõ hiệu năng của nó, kể cả với những học
viên chưa nhiều kinh nghiệm hoặc chưa được học về Đông y. Tỉnh An Giang và thị
xã Long Xuyên là nơi được phổ biến đầu tiên, sau khi tôi đạt được một số kết quả
lâm sàng tại TT/DC-ĐKLP 19B Phạm Ngọc Thạch, quận 3, TP.HCM, nhân một dịp đi
huấn luyện tại đó. Đồng bằng sông Cửu Long vốn nhiều sông nước, việc nhiễm thủy
thấp là điều đương nhiên, nhất là với các bà con nông dân, càng phổ biến hơn ở
nữ giới (thường tắm đêm ở ao, rạch sông ngòi).
I/- PHÁC
ĐỒ - KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG
Có
3 phác đồ dùng cho 3 mức độ bệnh khác nhau từ nhẹ tới nặng. Lọc thấp là dùng cho
trường hợp thấp nhẹ, trừ thấp được dùng cho mức độ thấp trung bình, trục thấp là
trường hợp thấp nặng.
- Lọc
thấp: 107, 240, 12, 184, 290, 7, 347.
- Trừ thấp: 521,
87, 22 B, 235, 127, 347, 236, 85, 29 (222), 53, 7, 63, 64, 287, 19, 39, 1, 290,
240, 26,103.
- Trục
thấp: tác động trọn ụ cằm; bờ môi dưới; bờ môi trên và cánh mũi (giới
hạn bởi pháp lệnh), toàn bộ mũi kéo dài lên vùng huyệt 103-175. Phác đồ này được
dùng khi cần trục đàm thấp thủy thật mạnh.
Về mức độ bệnh Thấp Thủy cần điều trị nhiều mới có kinh
nghiệm phán đoán. Nếu chưa kinh nghiệm các bạn có thể dùng phác đồ lọc thấp
trước, nếu không hiệu quả mới tăng dần theo các phác đồ sau.
Chú ý:
- Cần
chẩn đoán về hàn nhiệt trước khi điều trị.
- Rất
ít khi phải dùng trọn bộ huyệt nêu trên.
- Dò
sinh huyệt trước khi tác động.
- Sử
dụng que dò có dầu cao trước, nếu không có tác dụng mới sử dụng ngải cứu trong
những trường hợp bệnh thuộc hàn.
- Nếu
sử dụng que dò thì day mỗi huyệt chừng 30 cái với vaseline khi bịnh thuộc nhiệt,
với dầu cao khi bịnh thuộc hàn.
- Dán
cao khi bịnh thuộc thấp-thủy nặng (thường thuộc hàn chứng).
- Nếu
sử dụng ngải cứu thì hơ nóng mỗi huyệt 3 lần rồi xoa dầu cao vào huyệt, khi bịnh
thuộc hàn nặng.
- Mỗi
lần điều trị cần xem xét lại trước khi dùng, đề phòng sự quá liều rất dễ xảy
ra.
II/- KINH
NGHIỆM LÂM SÀNG
Một
hay các hiện tượng sau đây sẽ xảy ra khi chẩn đoán đúng và điều trị đúng mức
độ:
- Bịnh
chứng thuyên giảm rõ rệt.
- Bịnh
nhân có thể đột ngột đi tiêu lỏng, sệt hoặc có đàm nhớt lẫn trong phân. Có thể
đau bụng hoặc không, nhưng không quá 5 lần trong một ngày đêm,
càng đi tiêu càng thấy người thoải mái chứ không mệtnhư các trường hợp đi
tiêu lỏng khác.
- Bịnh
nhân có thể khát nước hơn, nên uống ngay nước ấm hay đun sôi để nguội (không nên
uống nước ướp lạnh hay nước đá) vàuống từ từ chứ không uống
nhanh. Khi cảm thấy hết khát thì ngưng
ngay chứ không uống cho hết nước đã rót ra ly. Tình trạng này
có khi do tác động quá liều, do đó cần hỏi kỹ để ngưng kịp thời, tránh tác dụng
xấu.
- Bịnh
nhân có thể thấy choáng váng một lúc rồi tự hết, sau khi điều trị về. Đây là
hiện tượng tốt.
- Bịnh
nhân có thể thấy cơ bắp toàn thân rần rần như có cái gì chạy nhè nhẹ; rõ nhất ở
vùng bụng dưới và hai chân. Có thể hai chân bỗng tê rần, mỏi nhừ hoặc yếu sức
hoặc đau nhức (trước đây không có hoặc quá nhẹ); nhất là khi bịnh nhân đang có
bịnh thuộc vùng bụng dưới thắt lưng hay vùng chân.
- Bịnh
nhân có thể bỗng bị nổi mụn ngứa (giống như bị dị ứng), cứ yên tâm vì khoảng ba
ngày đến hai tuần sau sẽ tự hết tùy nhẹ hay nặng. Đây là sự giải
độc.
LƯU Ý: khi bịnh nhân có
một trong các hiện tượng sau đây là ta đã chẩn trị sai hoặc tác động quá liều về
huyệt hay về kỹ thuật.
- Bịnh
nhân bỗng cảm thấy chán ăn hơn trước.
- Bịnh
nhân bị nóng người, khô người, khát nước, uống nước thấy ngon uống thật nhiều
mới thấy hết khát, người thấy mệt (không phải mỏi), hồi hộp tim, khó
ngủ.
Nên
dùng nước dừa, dưa hấu hoặc thanh long kèm với bộ BỔ ÂM HUYẾT để điền lại huyết
dịch cho bịnh nhân.
III/- TÁC
DỤNG
Loại
trừ đàm, thấp và nước ứ đọng trong cơ thể bịnh nhân.
IV/- CHỦ
TRỊ
- Giải
quyết tất cả các bịnh do đàm ẩm gây ra; dứt điểm hoặc hỗ trợ cho các phương
hướng điều trị khác. Tuy nhiên, giữ gìn và phục hồi chính khí của bịnh nhân là
việc cần chú ý trước và sau khi dùng nó.
- Có
thể dùng để điều trị các bịnh thường gặp như: ho đàm, thủy thũng, thấp khớp,
trúng nước nặng (khi BỘ THĂNG tỏ ra kém hiệu quả), huyết trắng không có yếu tố
nhiễm trùng, béo phì bịnh lý (mập nước), đại tiện phân nhão thường xuyên, ăn kém
lâu ngày mà các loại thuốc bổ không có tác dụng (vì đàm thấp ứ đọng cản trở sự
hấp thu của cơ thể).
V/- CHỐNG
CHỈ ĐỊNH
Cũng
như các phương án điều trị có tính tấn công khác, không nên dùng bộ huyệt này
cho các bịnh nhân suy nhược, suy tim, to tim. Tuy nhiên khi đàm thấp thủy là
nguyên nhân gây bịnh thì rõ ràng phải trừ gấp để lập lại sự lưu lợi cho các
tuyến sinh lý cơ thể, nếu không sẽ rất khó giải quyết các bịnh chứng liên quan
(trường hợp này phải rất cẩn thận khi dùng).
VI/- CHẾ ĐỘ
SINH HOẠT, ĂN UỐNG
Tránh
tái nhiễm thủy ẩm suốt thời gian điều trị và sau khi điều trị xong khoảng ba
tháng.
1) Về
sinh hoạt, kiêng cữ các hoạt động sau đây: tắm ban đêm, tắm nước nóng mà lâu
(nên tắm nhanh), uống nước nhanh (nên uống từ tốn), tiếp xúc với nước nhiều, nằm
ngủ dưới đất, tiếp xúc với sức nóng nhiều và lâu.
2) Về
ăn uống: cữ dùng các thứ quá mát hoặc lạnh, các thứ có chất nhớt như đậu bắp,
mồng tơi, rau đay, khoai mỡ, sữa đặc, lòng trắng trứng… Các loại cà, măng và các
thức chua kể cả các loại mứt làm từ thức chua như mứt me, mứt dâu v.v... Các món
này có vẻ nghịch lý với Tây y nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy là phải
cữ!!??
VII/- KẾT
LUẬN
- Có
thể là do ăn uống sai phép dưỡng sinh mà tạo ra bất ngờ. Nhưng thông thường Đàm
Thấp Thủy là những sản phẩm được tạo ra khi có một trục trặc sinh lý nào đó. Tuy
vậy bịnh nhân không chú ý vì quá trình tạo lập thường chậm chạp từng chút một
cho đến khi đủ cường độ thì mới gây tác hại. Vì vậy ít ai cảnh giác mà có khi
còn cho là sự tự nhiên của cơ thể! Do đó họ không kể ra khi khai bịnh.
- Tuy
là một sản phẩm có vẻ bình thường (dưới mắt bịnh nhân) nhưng chính chúng là tác
nhân gây bệnh và cản trở việc điều trị bịnh chính. Việc điều bổ chỉnh đốn sinh
lý cơ thể cho bịnh nhân là mục tiêu tối hậu, nhưng nếu không trừ chúng đi trước
thì có khi cũng khó đạt mục tiêu tốt đẹp này.
- Vì
là một phương pháp tấn công nên khi dùng bộ huyệt này chúng ta cần theo dõi kỹ
lưỡng diễn tiến lâm sàng để linh hoạt điều chỉnh mức độ điều trị cho thích hợp;
để tấn công đúng lúc, dừng lại đúng lúc và bồi bổ (bằng bộ BỔ ÂM HUYẾT hoặc BỔ
TRUNG) đúng lúc hầu đạt hiệu quả tốt. Muốn thế xin quý vị lưu ý
phần I và II của bài này.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 5-1-1994.



20:06
al48i6heard93@gmail.com
0 nhận xét:
Đăng nhận xét