Quan
điểm chung:
· Tận
dụng mọi phương pháp chẩn đoán hiện nay của y học.
· Sinh
lý học Tây y, Bát-cương và Tạng-tượng của Đông y là căn bản để nghiên cứu bệnh
lý, là chỉ tiêu để chẩn đoán và theo dỏi diễn biến điều trị.
Các
phương pháp chẩn đoán:
I/- TÂY
Y
Đo
huyết áp, sờ, nắn, nghe, hỏi về bệnh, xem các kết quả cận lâm
sàng.
II/- ĐÔNG
Y
1) Vọng:
dùng mắt để quan sát các biểu hiện sinh lý bệnh lý của bệnh
nhân.
- Động
tác: chính xác, dứt khoát, lanh lẹ là bình thường. Quá mức là Dương chứng, yếu
kém là Âm chứng.
- Ánh
mắt: linh hoạt, có thần là bình thường. Long lanh phát ra ánh lạ là dương, lờ đờ
vô định là âm.
- Da
dẻ: tươi nhuận, đều màu, màu sắc hợp lý là bình thường. Màu sắc quá bóng là
dương. Xỉn màu là âm (dù vàng hay đỏ).
- Niêm
mạc: hồng đều (nên xem niêm mạc của trẻ khỏe mạnh từ 7 đến 15 tuổi để biết tiêu
chuẩn). Xem thêm bài “Chẩn đoán về Huyết – Khí”.
2) Văn:
dùng tai nghe để khảo sát:
- Cách
diễn tả ý tưởng rõ ràng mạch lạc chừng mực (tùy trình độ của mỗi người) là bình
thường. Diễn tả nhanh, nhảy đoạn là dương. Diễn tả chậm, ý tưởng trùng lắp là
âm.
- Âm
lượng vừa phải phù hợp với bối cảnh xung quanh là bình thường. Nói lớn, nói
nhanh là dương. Nói nhỏ, bỏ lửng câu nói là âm. Tuy nhiên, khía cạnh này còn tùy
thuộc nề nếp riêng của mỗi người.
- Hơi
thở đều đặn nhẹ nhàng là bình thường. Thở nhanh mạnh là dương. Thở chậm quá nhẹ
là âm. Nếu người có tập khí công thì cách chẩn đoán này không
đúng.
3) Thiết:
dùng xúc giác để khảo sát bệnh lý bằng cách sờ nắn, xem mạch.
- Da
thịt cơ gân săn chắc phù hợp với thể trạng là bình thường. Co cứng là thực, lỏng
nhão là hư.
- Nhiệt
độ: bình thường da toàn thân có nhiệt độ tương đốiđều. Khi
có chênh lệch khác lạ là có bệnh. Nơi bất thường nhất là nơi có rối loạn: nóng
là nhiệt, lạnh là hàn. Cách này để chẩn đoán tổng quát toàn thân. Đối với nơi
đang bị đau (cục bộ) thì có thêm ý nghĩa khác: ngoài yếu tố
hàn nhiệt ra còn có ý nghĩa nóng là do khí bế huyết ứ, lạnh là do khí thiếu,
huyết kém.
- Mạch:
xem thêm về sách mạch lý. Cần lưu ý nguyên lý về mạch cũng thường nhắc nhở: “xả
mạch tòng chứng”. Vì vậy mạch cũng chỉ là một yếu tố tham khảo chớ không là yếu
tố quyết định. Dĩ nhiên với người giỏi mạch thì việc sai lầm ít khi xảy ra,
nhưng nếu không chú ý kết hợp với Vọng, Văn, Vấn thì khi sai lầm sẽ rất nghiêm
trọng.
4) Vấn:
theo tôi, đây là khâu quan trọng nhất và cần linh động khéo léo vận dụng kiến
thức tổng quát (ngoài kiến thức y học) và suy luận trên thực
tế.
Cần
quan tâm đến các tình hình sau:
- Nghề
nghiệp: nghề nghiệp rất ảnh hưởng đến sức khỏe. Nhất là tư thế làm việc và tinh
thần khi làm việc.
- Nơi
cư trú thường xuyên lâu dài (môi trường sống).
- Thói
quen sinh hoạt: cường độ làm việc – nghỉ ngơi, những thú vui chơi, thói quen tắm
rửa.
- Tình
hình ăn uống. Cảnh giác với câu trả lời “ăn uống bình thường”. Phải hỏi cặn kẽ
ăn một ngày mấy lần, mỗi lần ăn bao nhiêu, có ngon miệng hay không, có biết đói
bụng hay không? Uống một ngày mấy lần, mỗi lần bao nhiêu. Tính cả phần thức ăn
lỏng như canh, hủ tiếu…… v.v.. Trung bình mỗi người cần 1,5 đến 2 lít nước mỗi
ngày. Nhưng cũng cần chú ý đến thời tiết, việc ra mồ hôi và việc tiểu
tiện.
- Hỏi
về tiểu tiện: số lần đi tiểu ngày và đêm, lượng nước tiểu (khoảng 1,5 lít / 24
giờ). Nước tiểu hơi vàng, trong trẻo, mùi khai nhẹ êm ái là bình thường. Trắng
là hàn. Đục là có thấp. Đau xót, dễ hay khó – các hiện tượng này là triệu chứng
chung của nhiều bệnh khác nhau, sẽ đề cập đến trong bệnh thuộc hệ Tiết
Niệu.
- Hỏi
về đại tiện: mấy ngày một lần. Có một số người hai ngày mới đi một lần đều đặn
như thế thì đây cũng là bình thường vì họ có đại trường hơi dài. Tình trạng của
phân: cứng khô hay nhão rời, to hay nhỏ, vàng hay có màu khác. Các hiện tượng
này sẽ được đề cập trong bệnh hệ Tiêu hóa.
- Ngủ:
dễ hay khó vào giấc, thẳng giấc hay bị trở giấc, lúc thức dậy tỉnh táo hay lờ
đờ. Nằm đâu ngủ đó, ngủ khó thức dậy là khí suy. Ít ngủ, ngủ dễ thức nhưng ngủ
lại không khó là khí thịnh. Khó ngủ dễ thức và khó ngủ lại là âm-huyết suy. Xem
thêm bài “Mất ngủ”.
- Với
phụ nữ nên hỏi thêm về kinh nguyệt. Chu kỳ đều hay không, chu kỳ dài (34 ngày)
hay ngắn (23 – 25). Số ngày hành kinh, hình thức màu sắc của
kinh.
- Hỏi
về thời điểm bệnh tăng giảm, mùa nào giờ nào trong ngày bệnh tăng hay giảm. Tăng
trong mùa nóng hay buổi trưa là nhiệt chứng dương chứng. Tăng trong mùa lạnh hay
chiều tối là hàn chứng âm chứng. Nói chung là yếu tố dương (nhiệt - táo) hoặc âm
(hàn - thấp) sẽ làm tăng thêm bệnh đồng tính với nó.
- Hỏi
cảm giác:
Ø Nhiệt:
đau, ngứa, mỏi, nóng.
Ø Hàn:
nhức, tê, nặng nề, lạnh. Riêng trong bệnh thoái hóa các khớp tay chân, đĩa đệm
cột sống, các đốt sống thì các triệu chứng này không có ý nghĩa hàn – âm tuyệt
đối. Cần xét thêm bệnh tăng khi gặp yếu tố âm – hàn có xảy ra hay không mới có
thể kết luận có hàn hay không. Vì luôn luôn các bệnh này làm bệnh nhân có các
cảm giác nêu trên.
- Tính
chu kỳ khí lực (xem bài chu kỳ khí lực và chu kỳ 6 thiên khí) nếu bệnh có quy
luật về thời gian.
Về
Vấn chẩn sẽ được đề cập chi tiết hơn trong mô tả triệu chứng các
bệnh.
III/- DÒ
HUYỆT
Là
phương pháp chẩn đoán bằng cách ấn các huyệt để dò tìm căn nguyên của bệnh. Thực
chất cách này thuộc Thiết chẩn. Nhưng trên lâm sàng nó tỏ ra khá độc lập nếu
chúng ta nắm vững các nguyên tắc và nhuần nhuyễn kỹ thuật của phương pháp. Ngoài
DC-ĐKLP ta nên vận dụng thêm kiến thức của tất cả các phương pháp (môn phái,
trường phái) hiện có như Thể châm, Nhĩ châm, Thủ – Túc châm……
v.v..
Khi
dò huyệt bằng que dò cần biết các đặc điểm sau: khi vùng huyệt bị cộm
cứng là thực. Vùng huyệt bị mềm lõm xuống là hư. Huyệt bị đau một cách bình
thường biểu hiện bệnh nhiệt nhưng cũng có thể là hàn nhẹ. Đau một cách đặc biệt
không chịu nổi là nhiệt. Không đau dù đã dùng sức rất mạnh là hàn nhiều (cần
thận trọng với bệnh nhân Tiểu đường). Xem thêm bài “Chẩn đoán hàn nhiệt bằng
huyệt DC”.
Khi dò huyệt bằng
ngải cứu cần chú ý: huyệt hút nóng nhanh là huyệt quan trọng hơn huyệt hút nóng
chậm. Vừa nóng vừa buốt là hàn nhiều. Vừa nóng vừa ngứa là có nhiệt lẫn
vào.
Nên
nhớ chẩn đoán đúng thì điều trị mới đúng và ít có tai biến. Mà chẩn đoán bao giờ
cũng khó hơn điều trị. Do đó cần kỹ lưỡng trong khi chẩn đoán
để hạn chế sai sót. Và… bao giờ cũng tự hỏi rằng “hay là mình đã
sai?”, khi kết quả điều trị không đạt như mong muốn. Không nên áp đặt rằng
do lỗi của bệnh nhân vi phạm về sinh hoạt hay ăn uống……v.v.. mặc dù không bỏ qua
yếu tố này. Luôn cần quan tâm và tin cậy bệnh nhân sau khi bày tỏ quan điểm cần
biết sự thật về bệnh chứng diễn tiến bệnh. Khi chúng ta tôn trọng và không làm
họ sợ thì bệnh nhân sẽ tôn trọng và thành thật với ta. Nếu chúng ta nghi ngờ lời
khai của bệnh nhân thiếu chính xác (vì họ ngoài ngành Y nên đôi khi không biết
cách diễn tả) thì nên khéo léo kiểm chứng bằng phương pháp dò tìm sinh huyệt
hoặc có câu hỏi khác lời nhưng cùng ý để xác minh, không nên la
rầy. Nên ân cần với các bệnh nhân thuộc giới bình dân trình độ
văn hóa thấp. Giới này thường nể sợ thầy thuốc hoặc có tâm trạng ngại ngùng nên
khai bệnh hay sai, sót.
Lương
y Tạ Minh, 1993.



01:52
al48i6heard93@gmail.com
0 nhận xét:
Đăng nhận xét