Tạ Minh.
Mạc Tư Khoa, 1992.
Dò
tìm sinh huyệt rồi tác động vào sinh huyệt là việc chúng ta đã biết và đã từng
làm. Nhưng dò tìm sinh huyệt ở đâu, tác động như thế nào, bao nhiêu lâu để có
thể đạt được TỨ ĐẮC (đắc thời, đắc vị, đắc pháp, đắc độ)? Bởi khuôn mặt đã là
khó dò, rồi lại còn bàn tay, bàn chân, lưng, bụng, đầu, vành tai!!! Làm sao mà
dò cho nổi… phải không các bạn?
Nay,
tôi xin đóng góp một tâm đắc sau một thời gian dài nghiên cứu và thử nghiệm thấy
rất tốt. Mong rằng những kinh nghiệm này sẽ giúp các bạn vững tâm và vững tay
hơn trong việc sử dụng DC-ĐKLP.
Nguyên,
đầu năm 1992 tôi sang Matxcơva làm việc theo lời mời của họ và theo đề cử của
thầy Châu. Lúc ấy đang là mùa đông, lại là xứ lạnh, hầu hết các trường hợp đều
phải dùng ngải cứu để điều trị, hiệu quả tốt. Nhưng có một số trường hợp hơ mặt
không có kết quả, thậm chí có lúc lại xấu hơn, mặc dù về chẩn đoán rõ ràng là
thực hàn. Tôi rất ngạc nhiên. Trước đó, ở Việt Nam thỉnh thoảng cũng có gặp,
nhưng rất ít khi và chưa tìm ra giải pháp tốt. Một phần do áp lực bịnh nhân quá
đông không rảnh để nghiên cứu cho ra vấn đề. Mặt khác phương pháp chỉ mới bắt
đầu triển khai ra toàn thân, lại không có giường nằm cho bịnh nhân. Cho nên việc
áp dụng các hệ thống phản chiếu ngoài bộ mặt chưa được triệt để như hiện
nay.
Ở
Matxcơva, đủ điều kiện, nên tôi quyết tâm nghiên cứu hiện tượng này. Tôi phát
hiện ra nhiệt độ các vùng cơ thể của trên cùng một bịnh nhân không giống nhau.
Từ nhận xét này, tôi chuyên tâm tìm những vùng có nhiệt độ bất
hợp lý nhất trên cơ thể bịnh nhân làm nơi chẩn đoán và điều
trị. Từ đó hiệu quả điều trị được nâng cao hẳn vì nhanh hơn và chính xác hơn
trước. Ngoại trừ các trường hợp sốt cao làm rối loạn sinh lý
huyệt như đã trình bày. Hoặc một số trường hợp lạnh toàn thân vì một cơn đau
kịch phát.
Thế
là vấn nạn “Làm sao để đạt tứ đắc” đã được giải.
I/- VẤN
ĐỀ ĐẮC VỊ, ĐẮC THỜI?
Hai
yếu tố đầu tiên là ĐẮC THỜI, ĐẮC VỊ sẽ đến cùng lúc khi ta tìm được vùng chẩn
trị có sinh huyệt nằm trong đó. Đó là nơi lạnh nhất hay nóng
nhất trong cơ thể bịnh nhân trong khi các nơi khác có
nhiệt độ bình thường. Thí dụ: Các nơi đều ấm riêng bàn chân
lại lạnh thì bàn chân là nơi khám và trị bằng ngải cứu. Các nơi đều mát mà mặt
lại nóng thì mặt là nơi dò và trị bệnh bằng que dò.
II/- VẤN ĐỀ
ĐẮC PHÁP?
Ta
cũng biết, hễ bịnh nhân nóng thì giải nhiệt, bịnh nhân lạnh thì làm cho ấm, hễ
đau tay thì chữa tay nhưng nếu đau tay do thiếu máu cơ tim thì chữa bệnh cho tim
chứ không phải chữa cho tay; nhức đầu thì chữa đầu nhưng nhức đầu do táo bón thì
lại chữa vào đại tràng chứ không chữa cho đầu v.v… Đó chính là đắc pháp, chứ
không phải chỉ chọn dụng cụ là đã đắc pháp. Dĩ nhiên khi đã định được “pháp” rồi
thì việc chọn dụng cụ kỹ thuật thích hợp là việc phải làm để phát huy tối đa sự
ĐẮC PHÁP.
III/- VẤN ĐỀ
ĐẮC ĐỘ?
Bịnh
có nặng có nhẹ, có đơn giản có phức tạp. Thể trạng bịnh nhân có khoẻ có yếu, có
nhạy cảm có chậm đáp ứng. Mỗi trường hợp, mỗi thời điểm đều chẳng giống nhau.
Các kỹ thuật với các mức độ đề ra như hơ nóng 3 lần, day lăn vài phút v.v… dù
sao cũng chỉ gợi ý bình quân. Muốn đạt được yếu tố ĐẮC ĐỘ chúng ta phải chú ý
thật kỹ các triệu chứng, diễn biến trên thực tế lâm sàng ngay trong lúc đang
thao tác điều trị. Đồng thời vẫn tiếp tục khảo sát các diễn biến kế tiếp. Muốn
vậy chúng ta cần ghi chép bịnh án đầy đủ. Từ đó chúng
ta mới có thể suy ra và phán đoán mức độ tác động thích hợp cho mỗi lần điều
trị. Nếu không rất dễ làm quá lố hoặc không đủ.
Muốn
đạt được cao hai yếu tố PHÁP và ĐỘ chúng ta không thể không nghiên cứu sinh lý
bệnh lý Đông và Tây y để làm nền tảng trong phán đoán bệnh chứng. Riêng yếu tố
ĐẮC ĐỘ thì cần kinh nghiệm riêng có được sau một thời gian thực hành nhiều, điều
này khó truyền đạt.
Tôi
vừa trình bày xong phương cách để đạt TỨ ĐẮC. Tuy không có gì bí hiểm nhưng muốn
làm được chúng ta cần rèn luyện như mọi vấn đề khác. Mong các bạn thành
công.



02:32
al48i6heard93@gmail.com
0 nhận xét:
Đăng nhận xét