Tạ
Minh.
TP. Hồ Chí Minh, 21-12-1993.
Bệnh
nếu không thuộc hàn thì thuộc nhiệt hoặc hàn nhiệt lẫn lộn. Trung y đã có cách
chẩn đoán hàn nhiệt. Còn DC thì sao? Đây là ưu tư của tôi từ khi học và làm DC.
Thời gian đầu gần như tôi phải dựa hoàn toàn vào tứ chẩn của Trung y. Sau đó,
qua lâm sàng dựa vào huyệt tính và sinh huyệt, tôi tìm cách xây dựng kỹ thuật
chẩn đoán riêng cho DC. Trước, để thỏa mãn sự tìm tòi của mình; sau là để đáp
ứng nhu cầu của học viên chưa biết Trung y. May mắn thay tôi đã làm được điều
này, có thể chưa được hoàn chỉnh nhưng nó góp phần không nhỏ cho những ai chưa
biết hay đã biết Đông y – vì trong lâm sàng có một số trường hợp nhờ nó mà sự
định bịnh rõ ràng hơn. Xin thử xem và vui thú với phát hiện này.
Trước
hết, ta cần nhớ các chứng hàn nhiệt vừa có toàn thân vừa có cục bộ và sự tương
quan giữa chúng không có quy luật. Có nghĩa là có khi toàn thân là hàn mà cục bộ
lại nhiệt, có khi toàn thân nhiệt mà cục bộ lại hàn. Có khi toàn thân lẫn cục bộ
đều hàn hay nhiệt. Vì thế, khi chẩn đoán hàn nhiệt ta luôn cần xem xét cả hai
khía cạnh toàn thân và cục bộ để hạn chế sai sót.
I/- CHẨN
ĐOÁN HÀN NHIỆT TOÀN THÂN
Hai
dụng cụ chính được sử dụng ở đây là que dò và ngải cứu. Cần thuần thục về kỹ
thuật, nếu không ta sẽ bị báo hiệu sai và kết quả chẩn đoán sẽ sai
theo.
1) Dùng
que dò:
- đau
ở 26 là nhiệt ở biểu.
- đau
ở 143 là nhiệt ở lý.
- đau
ở 1 hoặc 43 là hàn nhẹ ở lý.
- đau
ở 19 là hàn nhẹ ở biểu.
2) Dùng
ngải cứu: ngải cứu được dùng khi khám bằng que dò không có sinh huyệt:
- nóng
ở 1 hoặc 43 là hàn nặng ở lý. Khi 43 nóng là mất khả năng tàng trữ Dương khí.
Khi 1 nóng là mất khả năng khai phát Dương khí.
- nóng
ở 19 là hàn nặng ở biểu.
- nóng
ở 143 là tinh huyết suy, mất khả năng tàng trữ Âm huyết. Khó trị hơn các trường
hợp khác.
- nóng
ở 26 là mất khả năng hấp thu dương khí.
LƯU Ý:
phải dò cả 4 huyệt xong rồi mới kết luận sau khi đã tổng hợp – xem ở phần “Kinh
nghiệm lâm sàng”.
Nếu
với cả hai phương tiện mà không thấy sinh huyệt thì có thể kết luận toàn thân
bịnh nhân bình hòa, không hàn không nhiệt. Chỉ còn cần khám hàn nhiệt cục bộ mà
thôi.
II/- CHẨN
ĐOÁN HÀN NHIỆT CỤC BỘ
Như đã
đề cập, khi một cục bộ có vấn đề (cơ quan bị bịnh), ta vẫn cần khám toàn thân để
tìm sự liên hệ nếu có giữa toàn thân và cục bộ. Nếu toàn thân không có gì, ta
chỉ cần khám cục bộ để biết bịnh thuộc hàn hay nhiệt.
1) Dùng
que dò: tìm sinh huyệt dựa theo đồ hình phản chiếu nơi bị bịnh - chủ yếu ở trên
mặt. Nếu báo đau là bịnh nhiệt. Nếu là vùng phản chiếu như cả cánh tay, hay
phóng chiếu xoang, ta dùng lăn đinh nhỏ lăn vào nơi này, nếu đau là bệnh
nhiệt.
2) Dùng
ngải cứu: khi bịnh chứng rõ ràng mà khám bằng que dò không thấy có huyệt đau là
bịnh hàn. Dùng ngải cứu dò sẽ thấy nóng.
3) Khi
huyệt không báo đau mà cũng không báo nóng là tìm chưa đúng, thay đổi hệ thống
phản chiếu.
4) Khi
huyệt báo nóng lẫn báo đau là hàn nhiệt lẫn lộn, hoặc hàn nhẹ. Cần bình tĩnh xem
xét kỹ.
Tuy vậy, theo kinh nghiệm, dò bịnh hàn nhiệt cục bộ bằng
huyệt khá phức tạp vì huyệt chịu chi phối bởi nhiều quy luật - như đối xứng,
giao thoa, phản hiện v.v.... cần có nhiều kinh nghiệm hỗ trợ mới ít sai lầm. Do
đó, nên phối hợp với sờ tại chỗ để xét hàn nhiệt - xem bài “Làm sao để đạt tứ
đắc”. Đồng thời nên hỏi triệu chứng tăng vào mùa nào trong năm, giờ nào trong
ngày để tìm hiểu quy luật rồi suy ra./.
TP. Hồ Chí Minh, 1989.



02:26
al48i6heard93@gmail.com
0 nhận xét:
Đăng nhận xét