SƠ LƯỢC VỀ HỆ TIM MẠCH
Lương y Tạ
Minh.
Quả
tim là cơ quan có chức năng tạo một lưu lượng máu lưu thông cho toàn cơ thể, là
một máy bơm máu đi và hút máu về. Gồm:
- Tâm
nhĩ phải: hút máu đen từ tĩnh mạch chủ đổ về thông qua van tĩnh mạch chủ bằng
cách giãn nở (tâm trương). Co bóp (tâm thu) để đưa máu đen xuống tâm thất phải
thông qua van 3 lá.
- Tâm
thất phải: hút máu đen từ tâm nhĩ phải bằng cách giãn nở (tâm trương) rồi co bóp
(tâm thu) tống máu đen lên phổi thông qua van động mạch phổi.
- Tâm
nhĩ trái: giãn để hút máu đỏ từ phổi về thông qua van tĩnh mạch phổi. Rồi co bóp
tống máu đỏ xuống thất trái thông qua van 2 lá.
- Tâm
thất trái: nở để hút máu đỏ từ nhĩ trái về rồi co để tống máu đỏ ra động mạch
chủ thông qua van động mạch chủ.
- Tim
được nuôi dưỡng bằng một hệ thống mạch máu dành riêng cho nó gọi là mạch vành.
Mạch vành tim trái có số lượng nhiều gấp bội lần bên tim phải.
- Các
động và tĩnh mạch là các ống dẫn để máu lưu thông.
- Máu
đỏ từ tim theo động mạch chủ chảy ra các động mạch rồi các tiểu động mạch và các
vi mạch (còn gọi là mao mạch) đến các cơ quan, tế bào. Máu đen từ các tế bào, cơ
quan đổ về các vi tĩnh mạch, dồn về các tiểu tĩnh mạch, về các tĩnh mạch rồi dồn
về tĩnh mạch chủ, về tim. Gọi chung là vòng đại tuần hoàn.
- Động
mạch phổi dẫn máu đen từ tâm thất phải lên phổi. Tại phổi, máu nhả carbonic và
nhận oxy để chuyển từ đen sang đỏ. Tĩnh mạch phổi dẫn máu đỏ từ phổi về tâm nhĩ
trái. Gọi chung là vòng tiểu tuần hoàn.
PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP
Theo
nguyên tắc, đo HA luôn cần ống nghe để nghe tiếng mạch đập. Nhưng trong thực tế
tôi không dùng ống nghe mà chỉ theo dõi trạng thái hoạt động của kim mà phát
hiện một số chức năng khác của huyết áp kế ngoài trị số tâm thu và tâm
trương:
- Kim
khựng lại ≥ 5 nhịp trước khi giật lui: ít nhất cũng bị thiểu năng vành, thường
là thiếu máu cơ tim nếu chất lưỡi nhạt tới trắng.
- Kim
giật lui ngắn một đoạn rồi giật lui dài hơn: có hở val 2 lá, nhiều hay ít
tùy mức độ chênh lệch của 2 trạng thái ngắn và dài.
- Trị
số tâm trương ≤ 50: hở val động mạch chủ.
- Kim
giật lui ngắn ≤ 2 mmHg (một nấc nhỏ trên mặt đồng hồ HA kế): trương lực tim yếu.
Dương hư nếu có sợ lạnh. Nếu không sợ lạnh là tâm khí suy.
- Kim
giật lui dài ≥ 4 mmHg (2 nấc nhỏ trên mặt HA kế): trương lực tim mạnh, máu loãng
(thành phần đặc và lỏng của máu không đúng tỉ lệ: huyết tương nhiều hơn huyết
cầu). Âm hư nếu sợ nóng, tâm khí thịnh nếu không sợ nóng. Kiểu giật lui kim này
thường gặp trong bệnh Đường huyết hay Lipid huyết, và các trường hợp có sốt
cao.
- Kim
giật lui nhanh: máu loãng.
- Kim
giật lui chậm: máu đặc (huyết tương thiếu, huyết cầu dư), hoặc có lipid
huyết.
- Kim
giật lui lúc nhanh lúc chậm hay lúc dài lúc ngắn hay có lúc bỏ nhịp: rối loạn
thần kinh tim.
- Kim
giật lui khoảng 3 – 4 mmHg: trương lực tim bình thường, Âm Dương tương đối cân
bằng.
TP. Hồ Chí Minh, 1995.
BỆNH HỆ TIM MẠCH
Lương y Tạ
Minh.
Bệnh
thuộc hệ tim mạch đa số là loại bệnh có mức độ gây nguy hiểm cao cho sức khỏe và
tính mạng. Sau đây là những bệnh thường gặp mà tôi đã có thành công phần nào
trong hệ bệnh này.
6.1. RỐI LOẠN THẦN KINH TIM
Là
tên gọi chung của các triệu chứng rối loạn nhịp tim (tim bỏ nhịp, tim đập lúc
nhanh lúc chậm lúc mạnh lúc yếu, tim đập nhanh hay chậm đều nhưng quá mức bình
thường): điều chỉnh tổng trạng, cào phản chiếu tim, phản chiếu các nút thần kinh
tim và mạng Purkinge.
6.2. THIỂU NĂNG MẠCH VÀNH
Nếu
nặng còn có tên gọi là Thiếu máu cơ tim: có những cơn nặng ngực khó thở, đau
thắt ngực có khi lan lên đầu cổ và ra tay. Triệu chứng thường chỉ xuất hiện vài
phút rồi tự biến mất, thường xuất hiện khi gắng sức, khi xúc động hay khi nhiễm
lạnh. Lưỡi rất nhạt. Nguyên nhân do mạch vành bị co thắt hoặc bít hẹp vì máu
đông hay mảng xơ vữa, cũng có thể do u bướu. Điều chỉnh tổng trạng, Tiêu viêm
khử ứ, phản chiếu tim, phản chiếu mạch vành (có 6 tuyến phản chiếu mạch vành:
từ 0 vòng lên 130 vào 65, từ 0 vào 73, từ 0 vào 61, từ 0 vào 7, từ 0 xéo xuống
29, từ 0 xéo xuống 347).
6.3. NHỒI MÁU CƠ TIM
Đây
là tình trạng nặng đột xuất của thiếu máu cơ tim. Đau dữ dội vùng ngực, vã mồ
hôi nóng, huyết áp cao đột ngột (HA tâm thu trên 170). Thuộc diện cấp cứu tại
bệnh viện.
6.4. HUYẾT ÁP THẤP
Là
một bệnh chứng còn nhiều bí ẩn về cơ chế và nguyên nhân gây bệnh. Tuy cũng có
thành công nhưng không chắc chắn như các bệnh khác. Vẫn lấy điều chỉnh tổng thể
làm chủ.
6.5. HUYẾT ÁP CAO
Là
triệu chứng của một bệnh nào đó trong cơ thể. Phải tìm cho ra căn bệnh gốc này.
Chữa bệnh gốc xong thì HA tự hạ và ổn định lâu dài. Trong thời gian chưa tìm ra
gốc bệnh HA luôn dao động cao, cho nên cần duy trì thuốc hạ áp cho đến khi HA
bắt đầu hạ ổn định 2 tuần liên tiếp thì giảm liều thuốc HA, cứ thế cho đến khi
HA trở về mức bình thường, lúc này thử bỏ thuốc, nếu ổn định suốt 2 tuần liên
tiếp thì có thể bỏ hẳn thuốc HA. Tuy vậy có nhiều ca không thể bỏ thuốc hạ
áp được mà phải uống một liều thấp nhất thích hợp đến suốt đời. Các bạn không
nên chủ quan với loại bệnh này như chủ trương của một số thầy khác, vì có thể
gây hại không cứu vãn được cho bệnh nhân.
Có
hai trường hợp tổng quát về tăng HA. Huyết áp cao Âm chứng và Dương chứng. Trong
cắt cơn tăng HA, dùng bộ Thăng khi HA cao Âm chứng, dùng bộ Giáng khi HA cao
Dương chứng. Trong điều trị, điều chỉnh tổng trạng làm chủ lực. Tìm thêm tạng
phủ có bệnh và điều chỉnh tạng phủ này. Tìm hiểu cơ chế gây bệnh cho tạng phủ
như viêm – tắc mạch – xơ hóa – vôi hóa (sỏi)……v.v.. khiến tạng phủ mất hay giảm
chức năng. Đôi khi tăng HA chỉ do tắc mạch một nơi nào đó trong cơ thể, thường
xảy ra ở vùng cổ gáy hay vùng đầu (mạch cảnh hay mạch nền sọ), lúc này HA hai
tay sẽ chênh lệch rõ ràng, thông mạch là xong.
6.6. RỐI LOẠN TUẦN HOÀN NÃO
Nặng
đầu kèm choáng váng, tăng ở tư thế đứng, không thay đổi ở tư thế nằm khi
trở mình. HA bình thường hoặc thấp. Điều trị: day dầu hay hơ có dầu Bộ Thăng,
phản chiếu đầu (hàn chứng: thiểu năng tuần hoàn não). Day vaseline bộ Giáng,
phản chiếu đầu (nhiệt chứng: huyết vùng đầu không thông, chưa phải là huyết ứ).
Muốn khỏi bệnh lâu dài cần điều chỉnh tổng trạng.
6.7. RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH
Chóng
mặt, tăng khi thay đổi tư thế nhất là khi nằm trở mình. Huyết áp bình thường.
Điều trị: day dầu hoặc hơ có dầu Bộ Thăng, phản chiếu đầu. Nhận
xét: thông qua việc điều trị hai bệnh chứng này, tôi cho rằng rối loạn tiền
đình là một dạng thiểu năng tuần hoàn não dạng đặc biệt chỉ xảy ra ở vùng Tiền
đình. Đông y gọi bệnh thứ 6 và thứ 7 này là Huyễn vựng.
6.8. HỞ VÀ HẸP VAL TIM
Bệnh
val tim có 2 loại: bệnh chức năng (do thần kinh hoặc những nguyên nhân khác) và
bệnh tổn thương thực thể (xơ hóa thường do thấp tim gây di chứng, bệnh tim bẩm
sinh như thông nhĩ…). Chúng ta chỉ nên nhận điều trị những trường hợp bệnh lý
chức năng. Chẩn đoán hàn nhiệt, phản chiếu val tim. Val tĩnh mạch chủ: vùng
huyệt 129 +. Val động mạch phổi: vùng 60 +. Val 3 lá: vùng 73 + và toàn bộ nửa
mặt bên phải từ tuyến VI trở xuống. Val động mạch chủ: vùng 60 -. Val tĩnh mạch
phổi: vùng 129 -. Val 2 lá: vùng 73 – và toàn bộ mặt bên trái từ tuyến VI trở
xuống.
6.9. TÂM DƯƠNG HƯ
Hơ
có dầu 19, nếu không hiệu quả thì hơ có dầu Bổ trung hay Thăng, 189. Triệu
chứng: huyết áp âm chứng, không sợ lạnh, không làm việc được.
6.10. TÂM KHÍ HƯ
Day
vaseline 19. Nếu không hiệu quả thì dùng bộ Thăng, 189. Triệu chứng: huyết áp âm
chứng, không sợ lạnh, làm việc nhẹ bình thường, làm việc nặng thì mệt.
Kiêng cữ: nói
chung cần tránh những thay đổi đột ngột về môi trường sống, thời tiết, nhiệt độ,
ăn uống. Không nên để bị cảm hay thương thực, những bức xúc tình cảm vui lẫn
buồn cao độ. Và kiêng các thức ăn theo cơ chế gây bệnh trong đó LẠNH và CHUA là
quan trọng hàng đầu vì hai vị này luôn làm co mạch, co cân cơ.
TP. Hồ Chí Minh, 1997.
PHƯƠNG HƯỚNG ĐIỀU TRỊ CÁC DI CHỨNG LIỆT
Lương y Tạ Minh.
Liệt
do Tai Biến Mạch Máu Não (TBMMN, là tên gọi chung của xuất huyết não và nghẽn
mạch máu não mà trước đây thường gọi là nhũn não), liệt do Chấn Thương Sọ Não
(CTSN) và liệt do Viêm Não (VN) đều có căn nguyên từ việc tổn thương hoặc bế tắc
trong não. Tương tự ta có liệt do Chấn Thương Tủy Sống, liệt do Viêm Tủy Cắt
Ngang; hai trường hợp sau cũng đều do thương tổn hoặc chèn ép ở một đoạn tủy
sống gây liệt.
Tuy
nguyên nhân khác nhau nhưng các trường hợp nêu trên đều gây thương tổn và chèn
ép bế tắc cho não hay tủy sống là hệ thần kinh (gồm nhiều dây thần kinh chằng
chịt). Ta đã biết, hệ thần kinh hoạt động theo cơ chế giống như cơ chế của các
máy dùng điện năng. Hệ thống này hoạt động tốt hay kém là do chất lượng máy,
chất lượng dây dẫn; và do điện áp của hệ thống đủ hay thiếu.
Xét
hệ thống quạt máy vận hành nhờ điện. Ta nhận biết hệ thống này vận hành được
(thấy cánh quạt quay) nhờ các thông số: điện năng đến, động cơ, vật liệu dẫn
điện, mạch điện thông suốt, cánh quạt. Điện áp yếu hay hệ thống động cơ và dây
dẫn kém chất lượng thì quạt quay yếu; điện áp đủ, động cơ và dây dẫn tốt thì
quạt quay mạnh; nếu quá kém thì quạt không quay nổi dù điện vẫn vào. Cánh quạt
quay hay không là do những yếu tố trước nó hội đủ mức cần thiết hay yếu
kém.
Tương
tự như vậy. Ta nhận biết cơ bắp hoạt động được hay bị liệt lệ thuộc vào các
thông số: năng lượng cung cấp từ máu; chất lượng hệ thống thần kinh từ não bộ
đến tủy sống đến các dây thần kinh ngoại biên, chất lượng các khớp TK (sinap).
Các thông số cần thiết này hội đủ một cách hoàn hảo thì hệ thần kinh chỉ huy các
cơ vận động được như ý; một hoặc nhiều trong các thông số này khiếm khuyết thì
các cơ vận động yếu hoặc ỳ ra dù tín hiệu thần kinh vẫn đến.
Quạt
máy không quay nổi khi điện năng thiếu, nếu không biết ta cứ cho điện vào thì
một thời gian sau hệ thống bị cháy. Tương tự (nhưng hơi khập khiễng), khi máu
đến không đủ, hệ thần kinh không chỉ huy nổi các cơ bắp dù các tế bào TK vẫn còn
thoi thóp sống. Nếu để thiếu máu lâu, vùng tế bào TK này có thể bị chết hẳn và
việc phục hồi vận động cho cơ do chúng chỉ huy là không còn hi vọng.
Vì
thế, việc phục hồi sinh lực cho hệ thần kinh là biện pháp chủ đạo của việc điều
trị các thể bệnh bại liệt. Trước đây, Tây y dùng các loại thuốc chống xuất
huyết, tan máu bầm, chống phù não nhằm giải tỏa các chèn ép; nữa cuối thập niên
90 Trung Quốc đề xướng và thực hiện việc mổ sọ não để hút máu ứ cho bệnh nhân bị
xuất huyết não cũng từ nguyên lý này. Từ đó việc cứu sống cho bệnh nhân xuất
huyết não nặng không còn khó khăn. Hiệu quả điều trị di chứng liệt sau TBMMN
cũng tiến bộ vượt bậc. Nhưng trên thực tế ta thấy còn không ít BN vẫn phải chịu
di chứng nặng. Vì sao?
Thú
vị ở chỗ là thực tế cho thấy việc cải thiện di chứng cho các bệnh nhân tổn
thương não-tủy có kết quả tốt hơn vẫn thuộc lãnh vực dùng huyệt dù thuộc bất cứ
trường phái nào. Vì sao?
Năm
1988, tôi xây dựng được bộ Tan Máu Bầm có công dụng phá tan máu ứ rất mạnh và
được dùng phổ biến trong giới DC. Bộ huyệt này hiện nay đã được tôi triển khai
thêm và đặt lại tên mới TIÊU VIÊM KHỬ Ứ vì nhận thấy tác dụng của nó rộng hơn
việc làm tan máu bầm. Bộ huyệt này luôn được sử dụng để giải quyết các di chứng
của chấn thương, trong hậu phẫu và đều thành công tốt đẹp.
Nhưng
mãi đến khoảng năm 1997-98 tôi mới áp dụng vào việc chữa liệt do TBMMN sau khi
chữa thành công liệt do chấn thương tủy và chấn thương sọ não; và sau khi biết
thông tin TQ tách hộp sọ hút máu ứ trong xuất huyết não. Kết quả không ngờ là
hiệu quả nhanh và cao hơn các phác đồ trước đã áp dụng từ 1987. Tôi đã công bố
rộng rãi khám phá mới này trong “Kỷ Yếu 20 năm DC-ĐKLP” do Thầy Châu chủ
biên.
Một
thú vị bất ngờ khác nữa là vẫn có thể can thiệp tốt các trường hợp nghẽn mạch
máu não gây tai biến mà trước đây thường được gọi là “nhũn não”. Kể cả trường
hợp nghẽn mạch do mãng xơ vữa.
Khi
áp dụng bộ TIÊU VIÊM KHỬ Ứ vào việc chữa di chứng liệt do các nguyên nhân TBMMN,
CTSN thành công, tôi vẫn luôn thắc mắc vì sao Tây y đã hút máu ứ, đã dùng thuốc
để tan máu ứ mà BN vẫn còn liệt, nhất là với CTSN. Chỉ khi tôi trị thì chức năng
vận động cơ mới tiến triển nhanh một cách rõ rệt?
Không có phương tiện
để tìm hiểu, tôi đành tự nêu các vấn đề sau:
Có
phải biện pháp hút máu ứ bằng phẫu thuật chỉ giải quyết được các vùng máu lớn
thấy được, CT hay MRI cũng chỉ thấy được còn máu ứ lớn nên kiểm tra thấy rằng đã
thông. Còn những hạt hồng cầu li ti kẹt đâu đó trong các vi mạch mà CT và MRI
không thấy được vẫn có thể gây thiếu máu cho các tế bào thần kinh của nó phụ
trách. Vì thiếu máu nên các tế bào TK này không đủ năng lượng để chỉ huy các cơ
liên quan, mặc dù tế bào TK này chưa chết hẳn.
Có
phải thuốc không đánh tan hết được các hạt hồng cầu li ti còn lại trong các vi
mạch máu? Có phải di chứng liệt vẫn còn vì máu ứ hay là vì một yếu tố khác khiến
cho các tế bào TK không làm được việc?
Hay
là do cả 2 yếu tố: huyết ứ li ti và cái gì khác máu ứ còn tồn đọng trong hệ
thống thần kinh khiến hệ thống hoạt động kém hẳn.
Nêu
thì nêu nhưng giải đáp được cho rõ ràng và chính xác thì tôi chịu thua vì ngoài
khả năng kỹ thuật.
Không
giải đáp được nhưng trên lâm sàng, tôi luôn thành công hơn các giải pháp khác.
Bởi có nhiều BN đã bị vài năm từng được điều trị bằng các giải pháp khác, bởi
những thầy thuốc khác và không chỉ một thầy thuốc mà vài thầy thuốc trước tôi.
Tuy nhiên trong những trường hợp này, hiệu quả cải thiện không cao hơn nhiều,
nhưng vẫn có tiến bộ thêm sau khi tôi điều trị. Còn những trường hợp mới bị, sau
khi ổn định được huyết áp xuất viện hoặc sau khi mổ sọ não do chấn thương xuất
viện mà được tôi trị ngay thì không ai là không đi đứng được, tuy rằng mức độ
hồi phục có khác nhau.
Từ
những kết quả đó tôi tin là mình đang đúng hướng và đúng nhất từ trước đến giờ.
Bởi nguyên lý rất phù hợp với Tây y có kỹ thuật cận lâm sàng cụ thể. Nói lên
điều này là một điều không hay xét về khía cạnh “khiêm tốn” theo Đông
phương.
NHƯNG……
đã hơn 20 năm lăn lộn với nghề, lang thang trong bụi đường và mưa nắng khắp hang
cùng ngỏ hẽm của Sài Gòn-Chợ Lớn và các vùng lân cận như Bình Dương, Biên Hòa,
Thủ Đức, Bình Chánh, Nhà Bè và hiện nay là Hà Nội, chứng kiến biết bao cảnh đời
đau khổ của bệnh nhân và gia đình họ tôi không thể im lặng chỉ để được hai tiếng
“khiêm tốn”!!
Tin và dùng kinh
nghiệm nhỏ nhoi này của tôi hay không là tùy quý vị nhưng nghĩa vụ của tôi là
phải nói lên sự thật. Nếu không, tôi có lỗi với những BN đã qua của tôi và với
những BN có thể sẽ mắc phải trường hợp đau thương này.
Kính mong quý đồng nghiệp
và quý bậc trưởng bối cảm thông và lượng thứ.
Bây
giờ, tôi xin trình bày toàn bộ chi tiết kinh nghiệm của tôi, tuy đã được nói đến
trong “Kỹ Thuật Chẩn Trị Bệnh Bằng DC-ĐKLP Kết Hợp Đông Tây Y” nhưng hơi ngắn
gọn nên các anh chị em còn yếu về DC không dùng được vì không hiểu hoặc không
tin vì thấy quá đơn giản.
Các
bạn đã có tài liệu huấn luyện của tôi cần cập nhật theo bài dưới đây tuy rằng có
chung tựa đề vì lần này tôi sẽ viết chi tiết hơn:
ĐIỀU TRỊ LIỆT DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO.
Lương- y Tạ
– Minh.
Tai
biến mạch máu não(TBMMN) và chấn thương sọ não(CTSN) thường đưa đến liệt vận
động, đôi khi liệt cả cảm giác và rối loạn năng lực tinh thần. Chỉ có một số ít
trường hợp phục hồi hoàn toàn theo cơ chế tự
khỏi và cơ chế bù,tuy nhiên phải thấy rằng
đây là nhờ tổn thương quá nhẹ. Có 2 cơ chế bù: bù tại
não là vùng não lành làm thay chức năng cho vùng não bị thương; cơ chế bù tại cơ
là những cơ lành làm thay việc cho cơ bị tổn thương. Chưa hết, vào đầu thập niên
00 của thế kỷ 21, người Mỹ phát hiện ra rằng các tế bào TK có thể tái tạo nhưng
phải mất khoảng hơn 3 năm. Chính nhờ các cơ chế này mà một số BN nghèo không đủ
sức theo đuổi việc điều trị vẫn phục hồi được một số chức năng vận động sau một
thời gian khá dài. Tuy nhiên, trên thực tế không phải ai cũng may mắn như thế.
Vì cũng có một số BN bị liệt vài năm đến tôi chữa mới bắt đầu phục
hồi. Một số ít bệnh nhân thoát khỏi tình trạng liệt này
một cách toàn diện do may mắn bị tổn thương tương đối nhẹ
và được điều trị ĐÚNG CÁCH NGAY TỪ
ĐẦU. Đa số là để lại cho bệnh nhân vài di tật về thể xác
hoặc tinh thần khi bị hơi nặng hoặc được điều trị không đúng
cách kịp thời ngay từ đầu.
Trong
di chứng liệt do TBMMN và CTSN thì điều trị đúng cần phải kết hợp cả ba giải
pháp đồng bộ một cách khéo léo: THUỐC MEN, TẬP LUYỆN, HUYỆT
ĐẠO.
Việc
dùng thuốc thì tùy, Tây hay Đông cũng được. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi -
trong TBMMN - thời gian đầu nên dùng thuốc tây (có BS chỉ định và theo dõi) cho
đến khi HA ổn định thật sự, vì tuy đã xuất viện HA của BN vẫn có thể lại bất ổn
và tai biến tiếp là điều rất dễ xảy ra. Việc ổn định HA khá phức tạp, dù phương
pháp chúng ta có thể làm được nhưng đòi hỏi phải vận dụng y lý rất nhiều về Tây
lẫn Đông y nên không thể trình bày trong bài viết này, các phác đồ về huyết áp
hiện nay thường mang tính cắt cơn hơn là điều trị. Cho nên
các anh chị em nên kết hợp với bác sĩ chuyên khoa tim mạch để khống chế HA cho
bệnh nhân, tránh tai biến rất dễ xảy ra tiếp theo khi HA còn dao
động.
Tập
luyện có hai phần: thụ động và chủ động. Tập thụ động là kỹ thuật viên hay người
nhà tập cho bệnh nhân, luôn luôn rất cần khi bị liệt cứng. Tập chủ động là bệnh
nhân tự luyện tập theo sự hướng dẫn kềm cặp của Kỹ thuật viên (trong thời gian
đầu hoặc tự nghĩ ra các tư thế trong sinh hoạt thường ngày trong giai đoạn sau),
chỉ cần từ khi bệnh nhân bắt đầu vận động được dù còn rất yếu ớt. Việc này đòi
hỏi bệnh nhân phải có ý chí quyết thắng bệnh tật. Tuy nhiên không nên quá cố sức
sẽ gây phản tác dụng. Tốt nhất nên nhờ KTV trong thời gian
đầu.
Về
huyệt đạo, đúng hơn là về DC-ĐKLP, LÀ CHỦ ĐỀ CHÍNH CỦA BÀI NÀY. Tôi xin cống
hiến các kinh nghiệm sau đây sau mười mấy năm chuyên nghiên cứu và điều trị loại
bệnh này. Có thể nói rằng đây là phác đồ điều trị đặc hiệu
cho bại liệt do TBMMN và CTSN.
Phác đồ điều
trị:
- Giai đoạn một: 156 -
+, 38 - +, 7 - +, 50, 37, 61 - +, 3 - +, 290 - +, 16 - +, 26, 240, 347, phản
chiếu đầu theo đồ hình Âm, Dương và Trắc diện phía đối bên bị
liệt.
- Giai đoạn hai: khi
bệnh nhân bắt đầu tự vận động được các cơ phận bị liệt dù còn yếu ớt, chúng ta
bắt đầu tác động thêm phản chiếu hoặc cục bộ cơ phận bị
liệt, phía cùng bên bị liệt. Gồm
phản chiếu nửa lưng, tay chân bên liệt. Tuy nhiên chỉ tác động bình thường chứ
không nên quá nhiều. Đồng thời khuyên bệnh nhân nên bắt đầu luyện tập chủ động
một cách vừa sức. Sự quá tải trong luyện tập sẽ gây phản tác
dụng. Nên điều chỉnh tổng trạng cho bệnh nhân theo
bài “Phục Hổi Chính
Khí” để đạt hiệu quả cao hơn và hoàn chỉnh
hơn.
- Với tại chỗ ta tác
động vào gáy, lưng, tay chân bên bị liệt.
- Trường hợp đã dùng
bộ Tiêu Viêm Khứ Ứ nêu trên 3 tuần mà BN vẫn chưa tự đứng, chưa tập đi được thì
cần chú ý việc điều chỉnh tổng trạng cho BN. Vì thường do huyết khí kém quá nên
cơ bắp không đủ sức nâng đỡ cơ thể.
- Khi
lực chân của BN đã mạnh, tự đứng khá lâu không ngã nhưng hễ bước đi thì lại ngã
là do có tổn thương vùng tiểu não, ta cần tác động phản chiếu tiểu não là vùng
sơn căn ấn đường, vùng đầu mũi và môi, cằm (theo ĐH phản chiếu não bộ). Nếu kết
quả CT hay MRI cho biết có tổn thương tiểu não thì ta cần can thiêp ngay vùng
này từ đầu mới có kết quả cao được.
Kỹ
thuật: day ấn hoặc rung các huyệt và dùng cào nhỏ cào phản chiếu đầu
hoặc cơ phận bị liệt theo các đồ hình nêu trên. Nếu bên liệt lạnh mát hơn
bên lành thì nên tác động huyệt và vùng phản chiếu có bôi dầu
cao, sau khi nhiệt độ 2 bên như nhau thì
không dùng dầu nữa. Nếu nhiệt độ 2 bên như nhau thì không
cần dùng dầu.
Biện luận:TBMMN và CTSN đều làm tổn thương
não. Hậu quả của sự tổn thương này là gây liệt cho các cơ phận vận động liên
quan dưới não như mặt, tay chân…v..v. Vì vậy gốc bệnh là ở não, các cơ phận chỉ
là ngọn. Do đó cứu lấy não bộ là việc đầu tiên phải làm trong
hai loại bệnh chứng này. Như vậy khi não bộ được phục hồi
thì tay chân lập tức phục hồi. Chỉ những trường hợp lâu ngày cân cơ bị teo rút
thì ta cần tác động mạnh trực tiếp vào các vùng tứ chi để tìm cách hồi phục các
cân cơ này. Bộ huyệt nêu trên có tác dụng tan máu bầm, chống viêm, lọc ứ ở não
và cải thiện sự lưu thông máu ở não.
CHÚ Ý:
- Cần kiêng cử không ăn
uống các thức chua, lạnh và các thức gây viêm (xem bài “Hướng dẫn về kiêng cử”).
Tránh tất cả các xúc động, các thay đổi đột ngột về nhiệt độ, về động
tác.
- Việc
lăn thêm tuy cần thiết nhưng lăn quá nhiều ở tay chân (vài ba trăm lượt mỗi nơi)
khi não chưa điều khiển chúng được chỉ khiến cho các cơ bị nhão thêm và gây khó
khăn trong điều trị về sau mà thôi!! Tuy nhiên trong liệt cứng thì lăn là biện
pháp tốt trong mọi giai đoạn nhưng cũng nên vừa phải.
- Việc
xung điện vào tay chân cũng không nên dùng quá sớm vì rất dễ gây phản tác dụng
khi tế bào TK còn yếu không chịu đựng nổi kích thích của dòng điện có thời lượng
và cường độ cao hơn ngưỡng của nó lúc bấy giờ. Mà lúc này làm sao biết được sinh
lực của tế bào TK là bao nhiêu nếu không được đo đạc bằng máy móc hiện đại? Nếu
chúng ta dựa vào cảm giác của bệnh nhân để chọn cường độ và tần số xung, thì
xung bao lâu là vừa đủ? Điều này không thể xác định bằng cảm giác chủ quan của
bệnh nhân cũng như của chúng ta được. Vì vậy cần thận trọng trong việc xung
điện.
- Trong
CTSN chúng ta sẽ thường gặp ý kiến của BS cho rằng không được châm cứu mà chỉ
cần tập VLTL. Tuy nhiên DC-ĐKLP không phải là châm cứu và
chúng ta không đụng đến vết thương ở đầu mà chỉ dùng huyệt ở xa vùng bị thương.
Điều quan trọng là không nên dùng những kỹ thuật mạnh tay gây đau đớn cho bệnh
nhân đang trong tình trạng suy yếu về hoạt động của hệ thống
TK. Dù sao có điều trị thêm bằng huyệt vẫn mau phục hồi
hơn là chỉ luyện tập suông, điều này đã được xác định trên thực tế lâm sàng
trong quá trình làm việc của tôi. Nay phổ biến cho các anh chị em cùng
dùng.
Chúc tất cả anh chị em thành công trong việc áp
dụng bài viết này để điều trị những bệnh nhân bị bại liệt do hai nguyên nhân
trên.
Trong
bài này, tôi lấy ví dụ là BN bị liệt bên trái để minh họa hình vẽ vùng phản
chiếu đầu các đồ hình Âm, Dương, Trắc diện.



CHÚ THÍCH: liệt do TBMMN là một bệnh
của hệ thần kinh nhưng đó lại là hậu quả của những vấn đề của những nội tạng bên
dưới não và hệ tuần hoàn. Do đó muốn điều trị tốt loại bệnh này thì ta cần điều
trị tốt các bệnh của các nội tạng sau khi các triệu chứng liệt đã giảm. Có như
vậy thì mới có thể đạt được mong muốn giữ kết quả điều trị ổn định cho bệnh nhân
lâu dài, tránh và ngăn ngừa tái phát cho bệnh nhân được, vì loại bệnh này rất dễ
tái phát. Vì vậy mà tôi xếp loại bệnh này sau các bệnh hệ thống khác. Bởi vì khi
học đến đây các bạn đã phần nào có hiểu biết về bệnh của các hệ thống
kia.



20:32
al48i6heard93@gmail.com
0 nhận xét:
Đăng nhận xét