THIỀN THƯƠNG
(Kiến
thức căn bản Tu tập thiền
định)
Lương
y DƯƠNG PHÚ
CƯỜNG
Kính mời Học viên chuẩn bị
học khóa Thiền Thương 17 (ngày thứ
hai 10.11.2014), xin vui lòng đọc
trước tư liệu nầy, giúp tiếp thu nhanh phương pháp thiền định sẽ được hướng
dẫn.
"Thiền
Thương là một phương pháp dừng lại, để thấy cái toàn thể đang
hiện"
Đặt vào nền tảng Thiền
Thương,
Bao Dung, tha Thứ,
Nhẫn thường, Lợi, An. (Hòa).
Chuyển tâm ứng hiện vững
vàng,
Công phu tiến triển muôn đàng đẹp
vui.
I. PHẦN MỘT: NGUỒN GỐC THIỀN
THƯƠNG:
1. Nền tảng chân thật con người
là chi? :
Con người sinh ra để được hạnh
phúc, để được sống và mưu cầu hạnh phúc, để được hiện thực hóa cái nó vốn
là.
Con người là Phật, “chúng sanh
giai hữu Phật tánh” ([1]). Con người
là Phật, vì vậy hãy
để Nó trở lại như Nó
là.
Con người là bạn hữu của Trời, là
con của Thượng đế. “Anh em là bạn hữu của Thầy” – “Anh em có cùng một Cha trên
trời” – “Xin cho chúng nên Một trong chúng ta” ([2]).
Vậy tại sao con người chìm trong
đau khổ dai dẳng và khủng khiếp như hiện nay? “Đời là bể khổ” ([3]).
Hiện nay con người như chìm dần
vào khổ đau, mặc cho các chính thể, cho các chương trình khoa học tiến bộ, mặc
cho nền y tế phát triển vượt bậc. Con
người vẫn khổ đau không dứt.
Khổ vì trời làm cho khổ, con người
với con người làm khổ cho nhau, khổ vì chủ xướng không tương thích, khổ vì chính
thể, khổ vì tư tưởng cố chấp, khổ vì phe nhóm tranh giành, khổ vì lòng tham
không đáy tranh danh lợi tình tiền, khổ vì đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu vật chất
không có chỗ dừng.
Mặc cho nguyên nhân nào, mặc cho
thời đại gì, mặc cho các chủ thuyết dương lên hạ xuống, mặc cho người đời tranh
hơn đoạt thua, mặc cho chân lý luôn miệng rao truyền… Hãy yên lặng ngắm nhìn, yên lặng
và yên… lặng… ngắm… nhìn. Dần dần bạn sẽ hiểu khổ từ đâu?
Dần dần bạn sẽ hiểu thực tại luôn luôn hiện hữu là gì? Các quy luật hằng định
như thế nào? … Bạn hãy tựa đời mình vào nơi ấy, đó gọi là Biết, là Ngộ, là Thấy,
là Tương nhập, là Đồng
Một…
Bằng cách nào làm vơi bớt
khổ…
Vì quá nôn nóng chạy theo những
điều mình nghĩ tưởng, con người lầm chấp những điều ấy là chân thực, nhưng nhiều
điều không bền vững, và vì thế khổ đau không
dứt.
Chúng ta sẽ nhận ra một con đường,
chỉ chính mình mới nhận ra con đường ấy, người khác chỉ là trợ giúp, sự
chọn lựa là do mình. Chính mình chọn lựa có
bước đi hay không? Nếu con đường được thấy là chân thật, chúng ta sẽ hạnh
phúc.
Hiện nay thiền định tạo lập sự
tĩnh lặng, nơi ấy làm yên lặng ngắm nhìn thực tại đang hiện để nương theo, để
tạo lập các nhân duyên chuyển hóa, để thành một hiện thực như Nó là. Con người
là ai, Nó sẽ hiện thực như
vậy.
Người ta kể một câu chuyện : Một
vị hoàng tử
lạc trong rừng, được một người tiều phu nuôi dưỡng, hoàng tử sống trong rừng
không biết mình là hoàng tử. Dù vậy, đến một ngày hoàng cung tìm ra được và đem
về nuôi dưỡng thì sẽ thành là vị vua ([4]).
Hãy bình tâm và suy nghĩ đúng. Nền
tảng Chân Thật con người là
chi?
Con người lầm chấp cho mình là súc
sinh, là thống khổ, là tội lỗi, là hèn mọn… nên Nó
biến thành THẬT. Vì tưởng như thế, các giáo điều đua nhau truyền dạy tiêu cực về
con người, coi con người là hư nát, hư vô, giả tạm, xấu xa… nên Con Người sống
đời mình như đã được học. Những điều lầm lẫn làm nên sự khốn khổ, ràng buộc đe
dọa, nhiều kẻ lầm chấp dẫn đường lạc lối thêm. Chính nghĩa tà, thông tin lạc,
thần thông ma quái… dẫn đưa con người mỗi ngày mỗi xa hơn chính thật thân phận
con người như Nó chính
là.
Thiền Thương giúp giải mở sự chân
thật ấy. Con người chính là một thực tại siêu việt, một thực tại tự do viên mãn,
không cần phải thêm bất cứ điều gì? Con Người nên học sự IM LẶNG VĨNH HẰNG, sự
im lặng của vũ trụ, Con Người sẽ nhận biết mình là ai? Nếu biết mình là “Tiểu Vũ
Trụ”, thì đã hoàn toàn khác rồi.
2. Thiền
thương là
gì?
Thương là: Dung, Thứ, Hòa,
Nhẫn,
Ích.
Đặt tính nền tảng Thiền
Thương,
Bao Dung, tha Thứ,
Nhẫn thường, Lợi, An (Hòa).
Chuyển tâm ứng hiện vững
vàng,
Công phu tiến triển muôn đàng đẹp
vui.
Thường tựa vào những đặt tính nầy,
khi đối ứng với cảnh trần, thường Tâm luôn được an. Tâm an thì thần minh được
an, tạng phủ được yên. Vì “Tâm chủ thần minh chủ lục phủ ngũ tạng”, nên
khi thiền định với phương pháp thiền thương, tự nhiên tâm được an thì mọi bệnh
cả thân lẫn tâm đều được an lành. Vì thế nếu thiền mà không thương, thì không
đạt cảnh giới an của tâm thì không thể chữa bệnh tật được. Đây không phải điều
tự nhiên có, mà phải quay vào bên trong, thường biết thường tập, lâu ngày thành
tựu nên gọi là công
phu.
Hiện nay chúng ta có rất nhiều
phương pháp thiền định. Các phương pháp thường có xuất xứ từ các tôn giáo, nhất
là trong các hệ phái Phật giáo, Yoga, Hòa Hảo, Cao Đài, Zen, Mật tông Tây Tạng,
Tịnh Độ tông… nó mang tính cách các tôn giáo phần lớn, có lúc thần bí và giới
hạn sự truyền pháp, thường không xuất hiện ở ngoài xã hội thường
dân.
Nay một trường phái mang màu sắc
dân dã, được mang ra ngoài xã hội, và ai cũng có thể tập được. Không mang tính
thần bí hay tôn giáo giáo điều. Như vậy có thiết thực và mang lại ích lợi không,
hay chỉ phù phiếm uổng công tu tập. Phương cách ấy được gọi là Thiền
Thương.
Thiền thương tạo lập hiền
nhân ([5]), phương
pháp thiền nầy đưa con người trở lại bản chất chân thật của con người, nên gọi
là Người Hiền, và Người Hiền là nhân tố chính tạo ra phương pháp Thiền
Thương. Thiền Thương tạo Người Hiền và người Hiền tạo Thiền Thương. Những
người Học và tập gọi là người
hiền.
Con người vốn bình đẳng, là cùng
Một Mẹ ([6]). Thiền định trải qua rất nhiều ngàn
năm, là kết thành tinh hoa của đời sống nhân loại, theo tiến trình tiến hóa của
con người. Con người như từng giọt nước biến
thành một dòng sông, Thiền định cũng được hình thành qua bao thế hệ, biến thành
một dòng thác. Vì thế, Thiền Thương là của nhân loại, của những người hiền tạo
nên. Chính những người tập, kết thành trường phái Thiền Thương đó.
Nên không có thầy dạy,
chỉ có người hướng dẫn,
đưa trở lại. Không có giáo điều, chỉ trình bày Cái Thực Đang Có. Không có cao
thấp nên không cần bái lạy, chỉ người trước hướng dẫn người sau. Không cầu lợi,
nên không có học phí, thường nương tựa nâng đở tu
tập.
Thiền Thương không mang màu sắc
tôn giáo giáo điều, không có y áo khác thường, không danh tước chức phận, không
dâng cúng cho giáo chức, không thầy dạy, không trình bày thần thánh mơ hồ, không
có thần bí, không giáo trình kết chặt, chỉ là vạn pháp tùy duyên tương tác.
Không thần thánh cá nhân, chỉ là Bạn Hữu hướng dẫn nâng đỡ cùng tu tập… chỉ là
một phương thức của nhân loại, đem đến giải pháp giải bớt khổ đau. Vì thế rất dễ
tập và rất dể mang lại thành quả, không có trụ sở đài cao công
trình.
Ai học cũng được, ở đâu cũng học
được, và lúc nào cũng học được. Chỉ là một phương pháp trải qua nhiều thời đại,
do nhiều vị Hiền Nhân hun đúc,
đem lại minh chứng là một phương pháp tu tập thành quả, được đặt tên là Thiền
Thương.
Đơn giản Thương là nguồn
năng lượng để tiến bộ, là cảm nhận kiểm soát tâm tánh, là mục đích chạm gần thực
tại vi diệu, là hành động chính thức được đòi buộc liên tục trong quá trình tu
học thiền định, là nguồn của Hạnh phúc và an
bình.
3. Mục đích Thiền Thương là
gì?
Đem lại an bình nội tâm, đem lại
sự an bình của nghĩ suy, đem lại an bình tại trong cuộc sống đầy biến động đau
thương không cách giải
thoát.
Đem lại sự nghỉ ngơi
tuyệt vời trong tỉnh thức. Nghỉ ngơi là
một tình trạng sung sướng. Khi bạn đã kinh nghiệm tập Thiền Thương, bạn
dễ dàng có
được trạng thái nghỉ ngơi.
Ngay lập tức bạn sẽ được hạnh phúc mà không cần bất kỳ điều kiện gì. Bạn luôn
luôn là người Hạnh Phúc, tạo được Nội lạc không phải chỉ là Ngoại
lạc.
Khi tâm an bình thì tạng phủ được
yên, tạng phủ yên thì bệnh được hóa giải. Vì thế thiền đem lại công hiệu chữa
một số bệnh, nhất là các bệnh mạn tính, các bệnh vô phương cứu chữa cũng được an
ủi phần nào khi đi gần đến sự kết thúc. Cũng có lúc chữa trị thành công, mà bao
phen các cơ sở hàng đầu phải bó
tay.
Khi tập luyện đã có độ chín muồi,
việc chuyển hóa bệnh tật trên thân mạng chỉ là cái bên ngoài, đôi lúc chỉ là tạm
mượn. Con người thật sự bước lên một tầng cao mới, nối thông với các thực tại,
vượt ra ngoài cái thông thường được nhìn thấy bao đời nay. Cái ấy gọi là Liên
Thông Tầng Mới. Có một ngày bạn sẽ cảm được điều nầy, mỗi người do nhân duyên
của chính mình, tầng giới nầy sẽ hiển lộ theo nhiều phương cách khác. Cái mà
chúng ta thường gọi là ngộ, là viên mãn, là đầy tràn, là tròn bích, là chân tánh
thường
hằng.
4. Giới luật căn
bản:
Giới là những Bảng Chỉ Đường đừng
vượt qua, thánh nhân đời trước khi tu tập, họ nhận ra những bảng chỉ đường ấy
giúp người tu tập không đi lạc, mất công lui tới mệt lòng, nên đặt ra cho người
hậu thế nghiên cứu đi theo, không phải là bó buộc nô lệ người tu tập, mà là trợ
duyên giúp
sức.
Giới phải tự nguyện thực hành,
giới là ân phúc của người tu tập, không có giới bạn không hy vọng đến đích. Giới
không phải là thành tựu, nên người giữ nhiều giới không phải là thành tựu cao
hơn người giữ ít
giới.
Giới chỉ là phương tiện ai cần thì
dùng, nên có người ăn chay thì công phu tiến bộ, có người ăn chay lại bệnh hoạn
triền miên, chay mặn không quan trọng, quan trọng nơi tiến bộ tâm
thức tu tập thuần
thành.
Giới Thực: Mỗi người phải nghiên
cứu tự chọn giới cho mình và tuân giữ nghiêm mật, không ai thay mình được, người
khác chỉ giúp gợi ý mà thôi, dù Thánh Tiên Trời Phật định giới để mình chọn, chứ
không thể áp đặt cho mình để dẫn đến thành tựu được. Giới thực là giới mình đang
thực gìn giữ, giúp sửa đổi lỗi lầm tánh hư tật xấu. Giả như mình thấy có tánh
tham ăn lúc ngồi thiền, thì giới cần giữ là ăn vừa đủ no. Như mình ngồi thiền
thấy có tánh hay đơm đặt chuyện không có thật, thì giới cần giữ là giới nói
thật. Trong lúc ngồi thiền, tâm lắng sâu nhìn thấy những tính hư tật xấu thì
thay đổi, dùng giới thay đổi, tất nhiên công phu thiền định càng ngày càng thăng
tiến. Giới dùng để sửa tánh tật xấu, nếu không có tật xấu này, thì giới sửa tật
không cần phải nhớ cho mệt. Thường người ta hay nói tu là sửa, giữ giới chính là
đang tu, tu đồng với giới, giới đồng với tu. Giới như vậy gọi là Giới
Thực.
Giới Hư: Giới hư là giới có biết
mà không cần giữ. Giả như người không biết uống rượu thì không cần giữ giới
không uống rượu, vì có biết uống đâu mà giữ giới. Hay giới sát sanh, trong lòng
người này không có bao giờ nghỉ đến sát sanh, thì giới cấm sát sanh đối với họ
không còn cần thiết. Vì thế có người nói tôi giữ mười giới, nhưng thực ra chỉ có
vài giới là đang thật, còn những giới khác đã vượt qua từ lâu rồi. Giới có mà
coi như không tác dụng thì gọi là Giới
Hư.
Giới Trược: Giới trược là giữ
giới mà coi khinh người không giữ giới, cho mình giữ nhiều giới hơn kẻ khác thì
ngã mạn sinh ra ngày càng nhiều. Dù cho giữ nhiều giới mà bị kẹt mắc, nên tu lâu
mà không thành tựu. Giới nhiều như vậy toàn là Giới
Trược
Giới Thanh: Giới Thanh là giữ
giới mà như quên giới, giữ một cách tự nhiên, nó là niềm vui của đời Tu Tập.
Giới được giữ tự do không bị ép buộc, hoặc sợ trừng phạt đời sau, chẳng sợ luân
hồi quả báo… giới như vậy là Giới
Thanh.
Các giới thường dùng: uống rượu,
tình dục lang chạ, trộm cướp, nói dối, nói hành, ác độc, nói thêm bớt, giờ giấc
không thường tập luyện, nghĩ điều ác, thù hận, gian manh, thu góp bạc tiền, ăn
uống phức tạp…. những điều này mỗi người tự xét nơi đời sống của mình để sửa
giảm bớt từ từ. Mỗi ngày giảm một ít lâu dần nó đi liền với thăng tiến công phu
tu tập Thiền
Thương.
5. Thiền Thương chữa bệnh được
không?:
Thật ra, ngồi thiền là một phương
pháp chữa bệnh rất hay, rất nhiều bệnh được chữa ổn định nhờ công phu thiền
định.
Tôi theo dỏi rất lâu một số lượng
lớn người bệnh tập thiền định, những người siêng năng tập luyện, gia tăng giờ
công phu, thay đổi cách ăn uống theo hướng ngũ cốc là chính, thay đổi tâm tính
theo hướng lành và thiện, thay đổi lối sống khi ở trong đời. Họ được lành rất
nhiều các triệu chứng bệnh cũ, không thấy phát sinh những bệnh mới phức tạp. Đời
sống trở nên an lành vui sướng, ít lo âu phiền muộn, tính tình thanh thóat.
Những điều ấy là thiền định, bàng bạc trong đời sống một chất thiền, không phải
là một hành vi giới hạn: “ngồi
thiền”.
Thành quả của người thiền định
không chỉ là “người khác truyền”, nhưng rất quan trọng là “tự luyện công”. Lẽ
tất nhiên rất cần người hướng dẫn, nhưng trong đời người tu tập thiền định không
bao giờ chỉ là “một thầy”, mà là rất nhiều nhân duyên tương đắc hỗ trợ. Vì
thế “vô sư” là “thầy” mới thật là
thầy.
Nên cũng đừng bái ai “làm thầy”,
mà cũng đừng xưng “thầy với bất kỳ ai”. Vướng vào điều nầy càng đi càng
kẹt. Nếu có một số kinh nghiệm chỉ mang tính sẻ chia bàn luận cũng là vạn phần
vui tươi
rồi.
Những bệnh con người đôi lúc cần
chữa thì thường là Năng lượng thiền định không chữa, nhưng những bệnh con người
không cần chữa thì Nó lại thường chữa. Thiền định thường chữa cái gốc của bệnh,
còn con người mong cầu thiền định chữa cái triệu chứng của
bệnh.
Lúc đầu khi ngồi thiền có thể
người ta không thấy kết quả mong cầu, đôi lúc còn nặng thêm, và dể dẫn đưa đến
sự chán nãn thất
vọng.
Có lần tôi nghe một Chị cấp cao kể
chuyện, Chị hướng dẫn rất nhiều người, rất nhiều người được chữa lành một số
bệnh quan trọng như ung thư, viêm khớp, vẩy nến, suy nhược, cứng bì, …họ ở với
chị thật lâu, nhiều năm. Chị kể họ coi chị như tình gia đình thân thuộc, tôi nói
gì họ cũng nghe, siêng năng cùng thiền
định.
Rồi có một ngày, họ không thể ở
với tôi mãi, họ còn gia đình, và xã hội, tôn giáo, nghề nghiệp…họ phải về nối
lại cái mà bệnh đã làm cho họ phải rời bỏ. Khi về nhà, họ còn lui tới và thăm
hỏi người từng hướng dẫn mình. Rồi một thời gian, bẵng đi khá dài không liên
lạc…có một ngày họ lại tìm đến, tôi nhận không ra, cũng là bệnh cũ tái phát, họ
xin tôi ra tay một lần
nữa.
Khi ở với tôi, tôi luyện cho họ
một “Nếp Sống” đẩy lùi triệu chứng bệnh tật, khi họ về lại với đời sống cũ, nếp
sống ấy không còn giữ vẹn, và thế là gốc bệnh chổi dậy và không thể còn cơ hội
lành lặn như
xưa.
Những triệu chứng đau thương,
những điều xấu xa sẽ trở lại, đầy đủ không thiếu vắng một nhân tố nào. Nếu không
còn những giây phút thiền
định.
Tôi nhìn và thương, ngậm ngùi vì
biết rằng vô phương không thể cứu nổi. Tự trong tâm, tôi biết rằng bệnh không hề
hết, mặc dù những người đến với tôi, bệnh rất nặng, nghèo khổ, chẳng còn ai
thương…khi thiền thì các triệu chứng đau đớn của bệnh lần lần thuyên giảm, các
bệnh sắp sinh ra cũng không sinh ra nữa, các bí tắc, suy nhựơc, lão hóa, đề
kháng yếu, khó ngũ, bất an, yếu nhược, khổ đau … lần lần ổn định. Đặc biệt tính
tình thay đổi theo hướng tốt, lòng từ bi, sự chân thật, điềm tĩnh, sự giúp đở,
cười tươi, hạnh phúc…đều mỗi lúc mỗi đậm lên trên cuộc đời người thiền
định.
Thiền định tất cả mọi thứ hết sức
vững bền và chắc chắn, với điều kiện ngày nào cũng ngồi thiền ít nhất là vài ba
lần, mỗi lần một giờ. Nếu hơn nữa thì sẽ có những biến hiện tốt
hơn.
Bạn không tốn bất kỳ khỏan tiền
nào, ăn càng lúc càng ít, càng đơn giản, ít bữa mà không thấy mệt và
yếu.
Bạn không hề lo âu về bệnh tật, sự
thiếu thốn, sự thất bại, sự khổ đau…những điều ấy bạn không hề xin bất kỳ người
nào, bất kỳ đấng nào, cho dù đấng ấy bạn đã tin tưởng rất lâu…nếu bạn bỏ ngồi
thiền. Không ai cho bạn điều tốt lành hay điều gì một cách nhưng không, nó là
kết quả của chính bạn đã làm
nên.
Trời đã ban cho bạn một quy luật
kỳ diệu: “Bạn hưởng cái điều bạn làm
ra”.
Vậy thiền không hề chữa bất kỳ
bệnh gì? Nó là nhân tố ngăn chặn những nguồn lực xấu tác động lên cuộc đời bạn
mà thôi. Nó không làm mất đi cái nhân tố làm cho bạn bị bệnh, thật ra luôn luôn
có. Nhưng nó chỉ làm được điều là cái “Nhân” ấy không thể thành hiện thực
làm bạn khổ đau. Nói tóm lại TU chỉ làm một việc ấy là thành công vạn kiếp
rồi.
Người ta còn nói: “bệnh tật là đại
hồng phúc”? Thật thế
sao?
Cho dù rằng bạn có hết bệnh, nhờ
các phương pháp chữa bệnh khác, cuối sau rồi cũng chết, cái chết mà tâm tánh
không thay đổi, khi chết bạn đi vào một “hành trình mới” bằng một tâm thức cũ.
Hay nói cách khác không có tiến bộ gì cho một kiếp “Duyên làm
Người”.
Nếu bạn được hết bệnh nhờ thiền
định, nhưng rồi bạn cũng sẽ chết. Khi ấy bạn đi vào “Hành trrình mới” bằng một
tâm thức của “Tỉnh Giác”, của Thấy Biết, của Minh tâm, của sự tiến bộ tâm thức
lạ lùng. Bạn ra đi với một nụ cười duyên dáng, thầm tạ ơn mình đã được làm
người. Nhờ có bệnh đau nên bước vào thiền định, bước vào thẳm sâu của tâm
hồn.
Đôi lúc bệnh đem lại sự thay đổi
nội tâm tích cực, Bệnh trở thành là hồng
phúc.
Thiền không chỉ là chữa bệnh, mà
còn hơn thế, Thiền Thương làm vơi dần khổ đau, khi bạn ở trong
đời.
Thiền Thương chữa bệnh ngòai
thân,
Còn thêm chuyển hóa vạn phần vọng
tâm.
Ngày đêm thay đổi âm
thầm,
Trong ngòai xinh đẹp đi gần tánh
như.
5. Thiền Thương trong đời sống và
làm
việc:
Khi bạn đang làm việc, khi bạn
đang ở trên xe, khi bạn đang chờ ai, khi bạn đang nghỉ tay giữa công việc, khi
bạn không biết phải làm gì, khi bạn không còn sức, khi đang trên giường bệnh,
khi đang nuôi người bệnh, khi bạn đang ở một mình…. Bạn hãy thực hiện phương
pháp Thiền Thương. Đừng để giờ của bạn nơi cỏi trần này qua đi mà không có bước
thăng tiến tâm thức, nếu một giờ đi qua bạn đã để quên mất, coi như giờ ấy đã
chết, mặc dầu chúng ta đang còn
sống.
Hãy đưa thân tâm, thân ý vào trạng
thái thư giãn hoàn toàn như đang ngủ, bạn thấy dòng chảy năng lượng tuôn trào
khắp châu thân, bạn thấy sự hòa bình bồi đắp sức mạnh dào dạt, bạn sẽ thấy toàn
cơ thể hoạt động mãnh liệt, chỉnh đốn những phần hao tổn do làm việc quá sức,
những nơi bị bí tắc dần dần được hồi phục, những tế bào thần kinh quá căng thẳng
dần dần tạo lập yên nghỉ. Những tạng phủ phải căng sức đáp ứng những yêu cầu của
vọng tưởng sẽ ngừng các hoạt động, trả lại thư sướng tự nhiên vốn có. Bạn sẽ ở
trong trạng thái của nhung lụa, của êm ái ngọt ngào, bạn sẽ cảm nhận an lạc của
nội tâm mỗi ngày mỗi lớn mạnh không ngừng nghỉ, đó chính là tài sản Thiền
Thương.
Bạn hãy ra lệnh cho từng bộ phận
của thân “thư giãn mềm mại” – cho đến một lúc bạn sẽ cảm nhận TOÀN THÂN THƯ GIÃN
MỀM MẠI. Chúng ta bắt đầu cảm nhận một niềm AN LẠC SÂU XA, không có ai, không
tiền bạc nào mua được, không quyền chức nào ban tặng… chỉ khi nào bạn ở trong
trạng thái ấy, trạng thái của công phu Thiền Thương mà chúng tôi đã trình
bày.
Chúng tôi xin phép được nhắc lại
rất nhiều lần trình thuật tu tập Thiền Thương này luôn luôn đem lại trạng thái
AN LÀNH HẠNH PHÚC. Trạng thái này là kho báu vô giá, không ai ban tặng cho mình
hết mà nhờ chính công phu tu tập, được trợ duyên bởi những thực tại Thánh đức và
bạn cùng tu tập, nhưng chính là mình rèn đúc, không có mình thì không có Thiền
Thương. Cuộc đời người tập từ đây vơi bớt nhiều khổ đau, có thể có đau mà ít khổ
hơn, có nghèo mà giảm khổ, có nạn mà vơi dần khổ… Bạn hãy tin đó là thật, đó là
kho báu người đời tìm kiếm để giải nạn khổ, niềm hạnh phúc lần lần sẽ đi vào đời
bạn, nhẹ nhàng và thanh thoát, không có gì có thể sánh
bằng.
Xin đừng quên khi đường đời muôn
vạn nẻo, bạn đã hiểu rằng Thiên đàng đã có tại trần thế, nơi tâm hồn bạn. Chứ
không phải là “thế gian không phải là thiên
đàng”.
6. Cách tập luyện căn
bản:
Ngồi im, ngồi im như tượng, càng
lâu càng
tốt, càng nhiều càng hay. Ngồi kiết già, bán kiết già, xếp
bằng, trên ghế, trên
gường… đều được. Trong những cách ngồi nầy nhiều người tu tập lâu ngày cho biết
ngồi kiết già là hay nhất. Bạn nên đến lớp ngồi chung với nhiều người, sẽ
nâng khả năng ngồi của bạn càng lúc càng tốt lên. Chúng tôi có kinh nghiệm chắc
chắn rằng, rất ít người thiền định bằng cách đọc sách rồi tu tập mà thành
công, gần như là không
có.
Bạn phải đến một nơi, để
được khai mở Luân
xa. Ngày xưa, mới đầu
tôi rất nghi ngại chuyện khai mở Luân xa
nầy, vì có vẻ như hoang
đường và thần thoại. Nhưng do tiếp xúc với các bạn đồng môn lâu ngày, tôi mới
hiểu được rằng: Đó là điều vô cùng quan trọng. Không có, không
thành
công.
Luân xa cần mở không? Vì pháp môn
tu tập cho Người Thường hiện nay là tu tại đời thường, cảnh
giới đời thường rất nhiều nghịch cảnh, ngăn trở và động loạn… nên Người
Thường tu ở cảnh đời thường hết sức khó khăn. Mở luân xa chính là nối thông giữa
người trước và kẻ sau, cầm tay giúp sức, thông truyền năng lực. Giống như người
bị bệnh, họ có thể nằm yên một thời gian nghĩ ngơi thì bệnh cũng có thể lành.
Nhưng nếu có một người biết về y thuật đến bấm huyệt săn sóc thì nó nhanh lành
hơn. Người tu trong chùa chiền, tu viện, am thất…, chung quanh toàn người lành,
công năng tu tập lâu ngày đã thường có, cảnh trí chùa thất thanh tịnh, trường
lực phổ chiếu đều, nên người ở trong đã có sự trợ lực, luân xa tự nhiên được
khai mở và nhờ sự trợ lực luôn nên không cần phải đặt tay mở làm
gì?
Ngày nào cũng
ngồi, Đúng phương pháp, Đủ giờ, Đạt yêu cầu,
và Đều đặn.
Tập đều, đúng, đủ, đạt,
vui,
Thân tâm thanh tịnh hành trì giới,
bi.
Một ngày bỏ tập biếng
lười,
Luân xa đóng lại tạo đời bất
an.
Chúng ta cùng bắt đầu bước
chân thiền định đầu
tiên:
Bước 1: Bạn bắt
đầu ngồi yên, tư thế nào cũng được. Bạn thầm ra lệnh toàn thân thư
giãn, thong
thả lập lại toàn thân mềm mại thư giãn… Bạn cảm
nhận sự thư giãn đang lan
tỏa trên thân thể, từ từ, êm đềm, nhẹ nhàng, thư giãn lan tỏa
cùng khắp châu thân. Ban đầu bạn sẽ không cảm nhận được sự thư giãn, vẫn còn
căng thẳng rất nhiều. Bạn đừng lo, đó là chuyện tất
nhiên.
Người ta thường nói Tập, do làm
một lần chưa được, nên gọi là tập. Ví như bạn tập đi xe đạp, mới đầu
vừa trèo lên
đã luống cuống và té cái rầm. Lại cố leo lên, đi chưa vững đã thấy té lần thứ
hai. Chỉnh đốn tinh thần, tập trung tư tưởng, bạn thấy đã có chút tiến bộ hơn.
Cũng vậy, khi bạn ra lệnh thư giãn, cơ thể
có chịu nghe đâu? Nó chưa hiểu bạn đang nói với nó điều gì? Một vài lần, bắt đầu
nó hiểu và tập làm theo, bộ phận nào dể thực hiện thư giãn nhất,
bạn sẽ cảm nhận có hiệu quả ban
đầu.
Bạn sẽ cảm nhận chút ít
thành công ban đầu, bạn thấy thật là đã có chút thành công ban đầu, chắc
chắn là sự thành công tiếp theo sẽ hiện thực. Tiếp tục ra lệnh thư
giãn, nhẹ
nhàng và êm ái thư giãn. Nếu bạn
không nhắc lại trong vài giây một lần, tư tưởng sẽ chạy đi chỗ khác,
chỗ mà nó
thường nghĩ
suy.
Bạn lắng nghe sự thư
giãn đang
hiện có trong thân mình, bạn lắng nghe một cách chú tâm. Bạn đã đi một đoạn
đường đầu tiên của thiền định. Đó là Lắng
Nghe.
Bước 2: Sau khi thân thể đã được
thư giãn
nghỉ ngơi, bạn
cảm nhận sự yên tĩnh, sự khỏe khoắn lan tỏa từ từ trong thân, bạn lắng nghe sự
thư giãn đang
hiện diện. Rồi làm gì nữa đây? Bạn bắt đầu lắng nghe hơi thở. Bạn nhìn thấy hơi
thở. Hơi thở đi vào, bạn biết hơi thở đi vào, bạn thấy hơi thở đi vào. Hơi thở
đi ra, bạn biết hơi thở đi ra, bạn thấy hơi thở đi ra. Chỉ còn có việc ấy, duy
nhất một việc: Hơi thở đi vào, bạn biết hơi thở đi vào – Hơi thở đi ra, bạn biết
hơi thở đi
ra.
Sau một hồi bạn không thấy hơi thở
đi vào, không thấy hơi thở đi ra, mà đang nghĩ một chuyện khác, hay nhiều chuyện
khác mà chính bạn cũng chẳng biết chuyện gì? Hay chuyện nọ xọ chuyện kia. Đây là
việc rất đáng mừng, vì bạn bắt đầu biết ý nghĩ của mình lan mang vô cùng vô tận,
bạn biết ý tưởng vô cùng linh động, có thể nghĩ chuyện xưa, chuyện nay, chuyện ở
xa, chuyện ở gần, chuyện bịa đặt, chuyện hư cấu, chuyện gian ác, chuyện phước
đức… Đó là bản tính linh diệu của ý, của tâm thức. Nhờ khả năng nầy, khi kiểm
soát được ý, ý trở thành công cụ tuyệt hảo, để bạn tha hồ khám phá trùm khắp
mọi loài mọi vật, mọi cảnh không còn giới hạn nữa. Cái nầy gọi là Tánh
Biết.
Trở lại một chút chuyện trước, khi
gặp tình huống lan mang vọng tưởng, biết đó là bản tánh của ý. Khi hơi thở vào,
bạn nói thầm trong tâm: Vào. Khi hơi thở đi ra, bạn nói thầm: Ra. Vào – Ra, Vào
– Ra… liên tục
nhắc thầm như vậy. Phương pháp nầy giúp cho ý được định, phương pháp nầy
căn bản, nền tảng, hiệu quả, dễ thực hiện. Gần như nếu không dùng
phương pháp nầy, thì không thể hiểu định là
gì?
Sau một lúc lòng bạn sẽ lắng
xuống, tâm hồn sẽ tự nhiên an tĩnh. Trạng thái nầy gọi là Định. Định là kết quả
của Thiền. Đó là Thiền, bạn đã biết Thiền rồi nhé. Bạn tự tin nói với chính
mình: “Tôi đã biết Thiền
Thương”.
Với hai bước trên, thân và tâm
thức đi vào tĩnh lặng, càng ở trạng thái nầy càng lâu, thì sự tĩnh lặng càng
sâu. Gọi là định, công phu lâu ngày, đạt được thâm sâu thì gọi là đại định. Năng
lượng vũ trụ sẽ tương nhập nơi thân và Tâm của bạn. Bạn hãy yên lặng ngắm nhìn
và cảm nhận
Nó.
Ngay trạng thái nầy, bạn đồng hòa
cùng vũ trụ đồng nhất - “Thiên Nhân hợp nhất” – (Trời và Người
trở nên MỘT). Năng lượng khi ở bên ngoài, gọi là năng lượng vũ trụ, khi vào
trong con người thì gọi là năng lượng sinh học, chính là năng lượng của bạn.
Năng lượng nầy chứa đựng những đặc tính kỳ diệu: sức mạnh rất vĩ đại, trí tuệ
trùm khắp, hoàn bích, tốt lành, khắp mọi không gian và thời gian, thấy biết,
chuyển đổi, ghi nhớ, tối thiện, thường hằng, như như, làm theo ý của con người …
những đặc tính rộng lớn ấy, sẽ biến đổi thân xác và tâm hồn bạn, mỗi lúc, mỗi
phút giây, mỗi ngày tháng trở nên đồng một như
Trời.
Nếu Bạn muốn, bạn có thể ra lệnh :
“nạp năng lượng”, nguyên tắc là: những đều bạn muốn đều được
thực hiện ngay lập tức. Bạn quên mình là Thượng đế sao? Bạn sẽ thấy, cảm
nhận năng lượng tràn khắc con người của chính mình. Hãy im lặng và nhận ra sự
thật tất nhiên
nầy.
Năng lượng sinh
học chỉ phát huy mạnh mẽ, Khi mình thiền tập, lâu ngày trạng thái “MỘT Ý”
được hình thành thói quen, tâm thức luôn ở trạng thái một ý, gọi là định. Dù
rằng có những lúc vẫn ở trạng thái Vọng, nhưng ít hơn người không thiền định. Vì
vậy ít hao năng lượng
hơn.
Năng lượng sẽ được thông suốt khi
bạn thay đổi. Trước nay con người sống với năng lượng cũ, năng lượng mới chưa
nạp vào, đời sống là những chuổi ngày không an tịnh, bệnh khổ tới lui không đứt
đoạn, nghĩ suy miên man đêm ngày không dứt...nếu bạn muốn nạp năng lượng mới
giải quyết những vấn nạn ấy, tất nhiên bạn phải thay đổi. Trong quá trình ngồi
công phu miên mật thiền định, bạn sẽ thấy "vạn niệm" thường hiện, biến
chuyển, rối bời, mơ màng lẫn lộn. Thường gọi là vọng niệm. Vọng niệm nầy dù bạn
có ra lệnh "nạp năng lượng" nó cũng chẳng nạp, hoặc như gánh nước thùng
lủng mà thôi. Bạn cần phải thay đổi "tánh", thấy một tánh hư xấu, từ từ
kiên nhẫn sửa tánh hư xấu ấy, chính là mở đường để năng lượng thâm nhập vào. Sửa
được nhiều tánh hư xấu thêm, năng lượng tuôn đổ thêm. Cũng vậy bao việc lành
phước đức, bạn cố gắng thực hành những điều tốt nhỏ nhặt, những điều nhỏ ấy góp
thành nguồn năng lượng tuôn đổ vào cuộc đời bạn.
"Bệnh tật hay khổ đau là cái kết
thành những điều mình đã làm", bây giờ chúng ta thay đổi bằng những điều ngược
lại, những điều tốt hơn. Tất nhiên cuộc đời của mỗi người sẽ tốt hơn và xã hội
sẽ lành mạnh hơn.
Điều đặc biệt, khi bạn không hao
năng lượng cho ra, thì tự nhiên cơ thể lại nạp tự động năng lượng mà Nó cần
thiết vào. Năng lượng tầng cao biết dùng loại nào và dùng ở đâu, vô cùng
chính xác. Thành qủa nầy tạm gọi là năng lượng sinh học, hay nói cách khác
tầng năng lượng mới. Thật ra Nó chẳng mới, chỉ là mới cảm nhận và trình bày mà
thôi. Bí mật chữa bệnh chính ở trải nghiệm năng lượng sinh học
nầy.
Bạn còn hỏi: Thiền Thương có chữa
được bệnh không? Chắc chắn với cơ chế như vậy, là một cơ hội chữa bệnh vô cùng
hoàn hảo trong từng giây phút không ngừng nghỉ, toàn vẹn và đầy từ
ái.
Khi bạn trồng một cây xoài, bạn
đào hố, cho cây xuống và lấp đất, cây bắt đầu sống. Sau một thời gian, cây xoài
sinh nhiều trái ngọt. Đơn giản là nó được bắt đầu, với những thao tác đơn giản,
cùng với thời gian nó trổ sinh hoa trái, hoa trái được trổ sinh nhờ bạn đã bắt
đầu một việc trồng cây xoài, một công việc đơn
giản.
Thiền là một con đường dài, được
đo bằng những bước chân. Bước chân thường rất đơn giản, ai cũng có thể thực hiện
dễ dàng. Bước chân của Thiền là thư giãn và theo
dõi Vào Ra
của hơi thở chính mình. Bạn cứ nối từng bước chân như thế, chắc chắn bạn sẽ tiến
lên trên con đường dài của Thiền
Định.
Chắc bạn sẽ còn hỏi thêm nhiều
điều trước khi bắt đầu bước chân đầu tiên? Lẽ tất nhiên điều đó rất cần thiết,
nhưng quan trọng hơn là chúng ta hãy bắt đầu quyết định tìm cách học Thiền
Thương.
Có một ít điều cần trao đổi
thêm:
· Con người
là linh vật hoàn hảo, vô cùng khó khăn mới có thể làm Người, đã hội tụ
tất cả nhân duyên nghiệp lực và khả năng, đã có đủ mọi sự để trở thành chúa tể
vũ trụ. Thiền chỉ vén bức màn ấy lên, làm cho thấy, trả lại cái hiện thực vốn NÓ
là. Kích thích cái tự tìm thấy, tự tu luyện. Thiền là một phương tiện của con
người, con người tuyệt hảo. Toàn bộ hành trình một đời người phải là một công
trình Sáng Tạo, không phải là một nơi trả nghiệp và không chỉ là một trường
học.
· Thiền
không phải thuộc một tôn giáo, cũng không phải là một tôn giáo. Đơn giản Thiền
là một phương pháp tịnh dưỡng tinh thần có từ ngàn xưa, nó là tài sản uyên thâm
của nhân
loại.
· Có thể
ngồi nằm đi đứng, ở tư thế nào cũng có thể được lập trạng thái thư
giãn và theo
dõi hơi thở.
Nhưng để tâm trí được định sâu và lâu thì tư thế ngồi trên ghế, ngồi kiết già
vẫn là ưu tiên chọn cho những người quyết tâm tu tập cao và sâu. Tuy vậy với
những người mới tập ban đầu cũng chưa cần thiết phải ép mình vào những phương
thế khó khăn quá sức chịu
đựng.
· Thức ăn
cho Thiền Định là thức ăn thực vật, ngũ cốc là tốt nhất. Tuy vậy cũng tùy duyên
đừng “phải ăn chay mới được”. Chúng ta nên đi từng bước, niềm vui và an
lạc là tiêu chuẩn hàng đầu cho mọi bước chân Thiền
Định.
· Rượu bia
không thích hợp với những bước chân an lạc, bạn chọn bớt từ từ, nên là phương
tiện của nghi lễ xã hội, không là đam mê. Bạn sẽ gặp sự hạnh phúc trong Thiền
Định, vượt xa rượu bia mang lại cho cuộc đời mình. Bạn tùy chọn, và có một ngày
bạn sẽ nhận ra khuyến cáo nầy chân
thật.
· Tư duy
tích cực, tốt, ích lợi… giúp bạn đạt sự thư thái tâm hồn nhanh hơn với những tư
duy tiêu cực, tệ hại, xấu… Bạn từ từ thay đổi, tạo luồng gió mới cho đời mình
bằng những tư duy ấy. Không có ai có thể thay đổi, trừ khi chính bạn thay đổi.
Cũng vậy, khổ đau
hay hạnh phúc là chính bạn chọn lựa, đôi lần những sự chọn lựa rất nhỏ bé và
hiện thực, mà lại đem đến những kết quả vô cùng
lớn lao.
· Nếu bạn có
những bạn đã đi trước và thành công có chừng mực để trao đổi thêm thì quá tuyệt
vời. Bạn bắt đầu có những người bạn mới, tự nhiên đến, trạng thái nầy gọi là
đồng ứng, đồng
duyên.
· Thêm một
ít sách nói về Thiền Định, nhưng đừng quá nhiều nếu bạn chưa đi vào thực hành.
Nếu đọc sách mà không đi vào thực hành, chỉ làm bạn rối hơn mà
thôi.
Từ xưa nay, rất nhiều sách viết về
Thiền Định, rất nhiều phương pháp Thiền Định uyên thâm,
nhiều bậc thiền sư, đạo sư
giảng thiền. Nhưng người chứng đắc rất ít. Vì sao vậy? Có phải Thiền Định là một
công việc gian lao khó khăn bậc nhất mà con người không thể làm được? Không
phải, không đến nỗi như thế. Trầm ngâm nghiền ngẫm lâu ngày phát hiện hình như
là, mọi sách mọi thầy giảng đều hay đều đúng mà còn thiếu một chữ. Chữ đó là
chữ gì mà quan trọng như vậy? Xin thưa là chữ THƯƠNG. Thiền là phải
thương, không thương thì thiền
không được, không tiến bộ gì hết. Cũng công phu, cũng ngồi luyện, cũng giới
hạnh, cũng bí truyền bí mật… cao lắm thì thành Tây độc Đông tà trong truyện kiếm
hiệp là cùng, không thể thành Tiên Thánh Phật Trời được. Bí mật của Thiền là vô
cầu nhưng nó sẽ đồng hợp, trở nên một với Tiên Thánh Phật Trời. Thiền giả không
thương thì nội bao công trình gian lao khổ cực có ra gì
không?
Thanh Tịnh Tâm có thể gọi
là THIỀN
THƯƠNG.
Thương dẫn con người đến toàn
bích.
Chúc thành quả đến với bạn thật
nhanh, như chỉ là một bước chân ban đầu, bước vào vườn xuân hoan lạc, hay chỉ là
một hơi thở, nối thông cùng với trời đất, lan tỏa an lành
trên tâm hồn
bạn.
Thiền thương tạo lập hiền
nhân
Nằm, ngồi, đi, đứng, tinh thần tự
nhiên.
Rau xanh ngũ cốc sạch
hiền,
Rượu bia bỏ bớt, thân liền được
an.
Nghĩ suy tích cực mọi
đàng,
Chuyển hư, từ ác đàng hoàng tu
nhân.
Bạn thiền duyên ứng đến
gần,
Kinh sách, quyền
thuật, huyệt dần khai
thông.
Toàn thân thư giãn lần
lần,
Vào – Ra – Thở – Biết, bước dần
thành
công.
PHẦN II: NĂNG LƯỢNG SINH HỌC VỚI
HỌC THUYẾT Y HỌC CỔ
TRUYỀN:
Khi nói đến y học cổ truyền,
thường con người nghĩ ngay đến Âm Dương. Chúng tôi xin giới thiệu vài nét về Học
thuyết Âm Dương, giúp một phần khái niệm một hiện thực, có Danh mà không có
hình được thấu tỏ, góp phần minh định những học thuật tương
đồng.
CHƯƠNG I. Đại
cương
- Âm Dương là quy luật của trời
đất, cương kỷ của vạn vật, nguồn gốc của mọi biến hoá, căn cội của sự sinh
trưởng và hủy diệt, là kho tàng chứa đựng thần minh, trị bệnh phải tìm rõ căn
bản của bệnh) ().
- Trong khoảng thiên địa, có khí
Âm Dương thường bao phủ con người như nước thường bao phủ cá vậy ().
- Xét lẽ Âm Dương để cơ thể quyết
đóan sống chết ().
Như vậy, cơ sở của mọi sự vật và
hiện tượng, căn nguyên của mọi vận động biến hoá là 2 khí Âm
Dương.
CHƯƠNG II. Âm Dương và Bệnh
Lý
a) Quá trình phát sinh
bệnh
- Mỗi hiện tượng đều có hai mặt:
Một dương (hưng phấn) và một âm (ức chế). Nếu một trong hai tác động trên mạnh
hoặc suy kém khác thường làm cho mất trạng thái quân bình âm dương, sẽ dẫn tới
tình trạng bệnh lý gọi là thiên suy hoặc thiên
thắng.
Việc phân loại âm dương cho sự vật
tương đối khó vì Âm Dương chỉ là 2 đặc tính của mỗi sự vật, đặc tính này không
hoàn toàn tuyệt đối vì có những vật tuy là dương nhưng so với cái dương hơn
lại hoá ra
âm.
Vì thế, tạm thời gọi là Dương,
những gì có nhiều dương tính hơn âm, và gọi là Âm, những gì có nhiều âm tính
hơn dương. Ngoài ra, còn dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau để xác định đặc
tính âm dương của sự vật. Ở đây, chúng cố gắng đưa ra một số tiêu chuẩn để cơ
thể giúp việc phân chia âm dương được nhanh và dễ dàng
hơn.
CHƯƠNG III. TÍNH CHẤT CỦA ÂM
DƯƠNG
Âm dương là đặc thù của nền y học
đông phương. Âm dương cân bằng thì bệnh tật không xảy ra. Trong mọi vận động của
đời sống, âm dương luôn chuyển động, dưới tác động của thời tiết, của tình chí
của nghĩ suy, của tai nạn, của hoạt động công việc, của tuổi tác, của môi
trường… làm âm dương bị thiên lệch mất cân bằng. Đặc tính của âm dương là tự
trở về cân bằng (quy luật Bình Hành, Hổ căn). Sau một thời gian âm dương tự động
trở lại quân bình. Những khi bị bệnh, con người nghỉ ngơi một thời gian thì bệnh
sẽ đở. Sự nghỉ ngơi tự nhiên có tác dụng cân bằng, nhưng có những bệnh, sau
lúc nghỉ ngơi vẫn không thuyên giảm? Như vậy là chưa đạt được độ nghỉ ngơi sâu
và thời gian chưa đủ. Cũng cơ thể bộ phận tổn thương không còn khả năng hồi
phục, hoặc điều kiện ngoại cảnh chưa hổ trợ
đủ.
Vũ trụ chia nhỏ dần thành một
chuỗi 2 mặt Âm Dương vô cùng
tận.
Như vậy, con người luôn ở trong
trang thái: Cân bằng – Mất cân bằng – Cân bằng. Nếu con người lâm vào
tình trạng mất cân bằng tuyệt đối thì sẽ không tồn
tại.
Để duy trì sự sống, với tư cách là
một tiểu vũ trụ, con người cần phải biết hoà đồng vào thiên nhiên, vào một hệ
thống lớn là: Thiên – Địa – Nhân. Hệ thống này luôn biến đổi, những biến đổi đó
vừa theo quy luật vừa không theo quy luật (bất thường). Cũng cơ thể vì những hạn
chế nhất định, con người chưa tổng kết được, nên vẫn phải coi những biến đổi bất
thường là ở ngoài quy luật. Con người không nên có ảo tưởng chống lại thiên
nhiên, mỗi bước chống lại thiên nhiên là một bước bị trừng phạt, bởi thiên nhiên
trong tương lai nhiều khi cũng vô cùng khốc liệt, tai hại. Do vậy, hoà đồng
với thiên nhiên là cách tốt nhất cho sự tồn tại của con người. Muốn vậy, chúng
ta phải biết giữ thăng bằng, tạo sự cân bằng. Cân bằng giữa Âm và Dương, Trên và
Dưới, Trong và Ngoài, Cho và Nhận, Đầu ra và Đầu vào,
…
Vấn đề ở đây là con người nhận ra
một sự chuyển động cân bằng âm dương là có thật, trong tình trạng mất cân bằng
âm dương. Sự chuyển động tạo lập cân bằng đó gọi là NĂNG LƯỢNG SINH HỌC. Sau
một quá trình tập luyện, cơ thể có khả năng làm quân bình âm dương dễ dàng hơn.
Phần tập luyện nầy, chúng tôi gọi là phương pháp Thiền
Thương.
Khi con người thở vào thuộc Dương,
thở ra thuộc âm. Vào ra cân bằng, là dấu hiện, là năng lượng, là hình thái biểu
hiệu âm dương đang chuyển về trạng thái cân bằng. Phép thở quan sát, hoặc tịnh
tâm, hoặc ý thu năng lượng là phương pháp đưa tâm thức con người trở lại thanh
tịnh, dẫn đến âm dương quân bình. Quân bình thì vô bệnh hoặc bệnh được giải
trừ.
Đào sâu vào từng hiện tượng, từng
vật, người ta thấy: Mỗi mặt Âm hay Dương lại có mặt đối lập ở trong, người xưa
gọi là trong Âm có Dương và trong Dương có Âm ().
Phương pháp tập luyện Thiền Thương
giúp ta giữ được cân bằng cơ thể. Khi cơ thể cân bằng về các mặt: Đồng hóa và Dị
hoá, Tĩnh và Động, Âm và Dương, … thì con người sống không bệnh tật. Ta “điều”
năng lượng từ vùng này đến vùng khác để giải bệnh, để đẩy những tà khí ô trược
ra ngoài, đó chính là những biện pháp đảm bảo “nội cân
bằng”.
Khi ta nạp năng lượng vũ trụ từ
bên ngoài vào cơ thể qua các luân xa (đại huyệt) chính là để duy trì sự cân
bằng giữa cơ thể và môi trường, cơ thể gọi đó là “ngoại cân bằng”. Hai loại
cân bằng này cần có sự bổ sung, kết hợp, tác động lẫn nhau, tạo nên trạng thái
tổng cân bằng của cơ thể. Cách tập luyện Thiền Thương, bằng cách nạp khí, điều
khí ta cơ thể giữ cho cơ thể luôn ở trạng thái cân bằng, tĩnh tâm, tĩnh trí,
thiện chí, … con người sẽ luôn khoẻ mạnh, sống không bệnh
tật.
Sống không bệnh tật là một điều
hạnh phúc, là ước mơ lớn của con người. Thường xuyên tập luyện Thiền Thương sẽ
đem lại cho ta điều
đó.
Tự rèn luyện dưỡng sinh theo
phương pháp ứng dụng năng lượng Sinh học cũng là sự tu luyện khí vận của âm
dương ngũ hành, nhằm lưu thông Kinh Lạc, điều tiết công năng khí huyết, phủ tạng
bên trong cơ thể, làm cho âm dương cân bằng, ngũ hành tương bổ cho nhau để đạt
mục đích dưỡng sinh, trị bệnh, đề phòng bệnh tật. Tu tâm luyện khí thông qua
môn Thiền Thương cũng chính là một trong nhiều biện pháp để cân bằng ngũ hành.
Trong thực tế, thường xuyên tập luyện Thiền Thương là một trong nhiều hoạt động
cơ thể làm cho Kinh Lạc thông suốt, các cơ quan phủ tạng vận hành hanh thông,
nhờ đó mà đạt được mục đích dưỡng sinh, đẩy lùi bệnh tật, thân thể khỏe
mạnh ().
Ai cũng đều biết sức khỏe là quý
nhất và người ta chỉ biết giá trị của sức khỏe khi đã đánh mất nó. “Người
nghèo nhất không muốn đổi sức khỏe của mình để lấy tiền bạc. Người giàu có lại
muốn dùng hết tiền bạc cho sức khỏe”. Chính vì vậy, thực hiện các phương
pháp bằng mọi cách để phòng bệnh và trị bệnh, bảo vệ và nâng cao sức khỏe là
công việc quan trọng và cần thiết đối với tất cả mọi
người.
Sách Hòang Đế Nội Kinh có viết:
“Chú trọng tại tinh thần đầy đủ ở bên trong, mà không bị ngoại cảnh phân tán,
tiềm lực sinh hoạt tự nhiên trong thân thể, lúc nào cũng được duy trì trên mức
bình thường, thì tà độc không có cơ hội gây bệnh. () “.
– “Tinh thần được thanh tịnh, thì tấu lý phần cơ nhục đóng kín, dẫn gặp thời
tiết khắc nghiệt, khí hậu trái thường, cũng không hại đến sức khỏe con người
được “ ()
. – “Tinh thần yên lặng, tinh khí giữ gìn đầy đủ ở trong người, thì
ít khi mắc phải bệnh độc” ().
Theo triết học Phương Đông, con
người là một tiểu vũ trụ, tồn tại và cân bằng trong một hệ thống vật lý và cơ
quan hệ mật thiết với môi trường sống. Con người mới sử dụng vài phần trăm khả
năng của bộ não, còn hơn 90% bỏ hoang vắng chưa được khai thác… Từ lâu, Y học
phương Đông đã phát hiện ra trên cơ thể con người có rất nhiều điểm khi châm
kim vào cơ thể chữa được hầu hết các bệnh, người ta tập hợp các điểm đó thành
365 huyệt, nằm trên 12 đường kinh chính và hai mạch là: mạch Nhâm và mạch Đốc.
Đặc biệt, trên hai mạch này có chứa các đại huyệt liên quan tới các cơ phận chủ
chốt trong cơ thể, đó chính là các trung tâm có khả năng trao đổi năng lượng
trực tiếp giữa cơ thể con người và môi trường xung quanh. Khai thông các huyệt
đạo trên hai mạch Nhâm – Đốc, có thể thu được năng lượng trong không gian,
trong vũ trụ và trở nên cân bằng về trạng thái âm dương. Từ đó, bệnh tật được
đẩy lui, cơ thể trở nên khỏe mạnh, những khả năng tiềm ẩn của con người được
đánh thức.
Thuyết Kinh Lạc là bộ phận trọng
yếu cấu thành hệ thống lý luận Đông y học, nó quán xuyến cả các phương diện
sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán, trị liệu, … của Đông y, nó chỉ đạo các phương
pháp trị liệu hàng mấy ngàn năm nay trên thực tế lâm sàng. Nhận thức và nắm bắt
được tình hình phân bố, đường hướng vận hành và công năng chủ yếu của Kinh Lạc
trong cơ thể con người sẽ có tác dụng hết sức to lớn cho dưỡng sinh và bảo vệ
sức khỏe. Dùng Kinh Lạc điều chỉnh những chỗ mất cân bằng âm dương trong cơ thể
chính là phát huy tác dụng của Năng lượng Sinh
học.
Bệnh thường sinh ra do nắng, mưa,
gió, nóng, lạnh, ướt (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa), rất phức tạp và khó
phòng bị. Khi nội khí bên trong được vững vàng thì tà khí khó xâm lấn, nếu bị
xâm lấn cũng dễ bị loại trừ().
Năng lượng sinh học làm mạnh chân khí, lưu thông kinh mạch, phát tán ngoại tà
nhanh
chóng.
CHƯƠNG IV. Vị trí các
huyệt đạo tương ứng với các luân
xa:
Luân xa số
7 ở trên đỉnh đầu, tương ứng với huyệt Bách hội. Nơi hội tụ, cùng đổ về, tất cả
các kinh Dương đều hội tụ, “chư dương chi sở
hội”.
Luân xa số
6 () gọi
là Kỳ huyệt, nơi rực rở, hào quang. Nằm ở giữa hai huyệt Thần đình và
Ấn đường nên gọi là Ngạch trung, nằm ngang với tuyến Yên và tuyến Tùng - 2 tuyến
nội tiết rất quan trọng của cơ
thể.
Luân xa số
5 ở đốt xương sống C7, tương ứng với huyệt Đại trùy. Hội của sáu kinh dương và
Đốc mạch.
Luân xa số
4 ở dưới đốt sống lưng D6, ngay huyệt Linh đài, đối diện phía trước ngực là
huyệt Đản trung ().
Luân xa số
3 ở dưới đốt sống lưng L2, ngay huyệt Mệnh môn, là cửa ngỏ quan trọng của sinh
mệnh. Đối diện với lỗ rún, huyệt Thần khuyết ().
Luân xa số
2 ở dưới đốt sống lưng cùng cụt, ngay huyệt Trường cường. Khí rất cường thịnh,
thuộc về
dương.
Luân xa số
1 ở giữa bộ phận sinh dục và hậu môn, ngay huyệt Hội âm. Hội của mạch Nhâm,
Đốc () và
mạch Xung.
Thường
Nhân
Ø Lớp
học THIỀN THƯƠNG thường được tổ chức tại địa chỉ: 1050/73/1 Quang Trung,
phường 8, quận Gò Vấp, TP. HCM. Lúc 14g – 16g ngày thức
hai.
Ø Email:
thienthaoduong@gmail.com.
Ø Tel:
0903.991960 gặp Lương y Dương Phú
Cường.
Ø Nghiên cứu
xem thêm tại:thanhtinhtam.blogspot.com.
([1]) “Phật sanh bất nhị”
– Chúng sanh là Phật, Phật là chúng sanh –
“Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”(Kinh Niết
bàn).
([2]) Trích Phúc Âm theo
Thánh Gioan 15,
1-27
([3]) Kinh phật có câu:
"Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước
biển"
([4]) Trong nhà Phật có câu
chuyện “Mẹ và con sư tử” rất nổi tiếng , do chính Đức Phật kể cho đại
chúng.
([5]) Hiền nhân là Người
Thật như Tự Nhiên đã hình thành nên Nó. Bản thể Tạo Hóa đã đặc định như thế nào
thì Nó như vậy. Nó sống đời sống thuận theo Tự Nhiên vốn có. “Nhân chi sơ tánh
bản thiện” – con người tự nhiên vốn là Thiện, là Linh vật, là Trời, là hiền. Nếu
sống trái với Tự Nhiên đều bất
thiện.
([6]) Theo truyền thuyết
Rồng Tiên, dân tộc Việt được sinh ra từ một “Bào Cung Trăm Trứng”, nên gọi dân
là Đồng Bào ruột
thịt,
Lượt trích từ tác
giả bài viết: Tiến sỹ NGUYỄN TẤN LỘC (Trường Đại học Kinh tế
Quốc dân - Hà Nội)
.
· Thượng đan điền: Trùng với huyệt Ấn
đường (giữa 2 chân mày) còn gọi là “Đan Điền
thần”.
· Trung đan điền: Trùng với huyệt Đản
trung (chính giữa đường nối 2 đầu vú, cắt ngang đường dọc
theo xương ức) còn gọi là “Đan Điền
khí”.
· Hạ đan điền: Còn gọi là “Đan Điền tinh”, vị trí bắt
đầu ngang với huyệt Khí
hải (nằm trong khoảng trên đường chính trung,
dưới rốn 1, 5 thốn - khoảng 3 cm) và huyệt Mệnh môn (tại cột sống, ngang với
thắt lưng). Khi Đan Điền được chủ động kích hoạt, bộ vị của nó hoàn toàn nằm ở
giữa và phía trên bụng dưới. Có môn phái thì nói nó nằm trên huyệt Thần
khuyết (rốn).
Mạch Đốc (督脉) là mạch trên cơ thể con
người theo y học cổ truyền phương
Đông. Mạch Đốc thâu tóm tất cả các kinh dương, là một trong hai mạch quan trọng
trên cơ thể con
người.
Mạch Đốc bắt đầu từ chỗ huyệt Trường Cường chạy ngược
lên theo cột sống, qua
giữa gáy lên đỉnh đầu rồi vòng xuống giữa mặt và kết thúc ở huyệt Ngân
Giao.
Các huyệt chính thuộc Mạch Đốc là Trường
Cường, Yêu Du, Yêu Dương Quan, Mệnh Môn, Huyền Xu, Trung Tích, Trung Xu, Cân Súc, Chí Dương, Linh Đài, Thần Đạo, Thân Trụ, Đào Đạo, Đại Chùy, Á Môn, Phong Phủ, Não Hộ, Cường Gian, Hậu Đình (Hậu Đỉnh), Bách
Hội, Tiền Đình (Tiền Đỉnh), Tín Hội, Thượng Tinh, Thần Đình, Tố Liêu, Nhân Trung, Đài Đoan, Ngân
Giao.